DỰ THẢO SỬA ĐỔI VỀ QUẢN LÝ CÁC ĐỐI TƯỢNG ĐƯỢC COI LÀ NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI THEO LUẬT ĐẦU TƯ 2014

Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Bộ KHĐT) vừa công bố nhiều dự thảo sửa đổi Luật Đầu tư 2014 ( Https://Tinyurl.Com/Y8tnwkkt ). Liên quan đến các đối tượng được xác định là nhà đầu tư nước ngoài,

· Bộ KHĐT đề xuất rằng một tổ chức kinh tế được kiểm soát bởi các nhà đầu tư nước ngoài (Tổ Chức Bị Nước Ngoài Kiểm Soát) phải tuân thủ các điều kiện đầu tư áp dụng đối với các nhà đầu tư nước ngoài khi Tổ Chức Bị Nước Ngoài Kiểm Soát thành lập công ty mới hoặc mua lại cổ phần, phần vốn góp trong một công ty khác.

· Tổ Chức Bị Nước Ngoài Kiểm Soát là một công ty tại Việt Nam, trong đó các nhà đầu tư nước ngoài (1) sở hữu hơn 50% vốn điều lệ hoặc cổ phần phổ thông của công ty đó; hoặc (2) trực tiếp hoặc gián tiếp có quyền bổ nhiệm các thành viên của Hội đồng quản trị [,] người đại diện theo pháp luật của công ty đó; hoặc (3) có quyền quyết định sửa đổi điều lệ của công ty đó.

XÁC ĐỊNH THỜI HẠN HẠN HỢP ĐỒNG THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM 2015

Thông thường, một hợp đồng sẽ quy định một điều khoản xác định thời hạn có hiệu lực của hợp đồng đó. Trong điều khoản đó, những thời điểm hợp đồng có hiệu lực và chấm dứt hiệu lực được xác định, cho dù bằng một khoảng thời gian hoặc sự kiện nhất định. Tuy nhiên, Bộ Luật Dân Sự 2015 không có bất kỳ quy định nào về “thời hạn” của các hợp đồng. Thay vào đó, Bộ Luật Dân Sự 2015 có các quy định riêng cho (i) thời hạn và (ii) thời điểm hợp đồng có hiệu lực và các trường hợp chấm dứt hợp đồng.

Theo Bộ Luật Dân Sự 2015, theo mặc định, việc bắt đầu một thời hạn bằng cách tham chiếu đến một sự kiện sẽ bắt đầu vào ngày ngay sau ngày diễn ra sự kiện đó chứ không phải là ngày diễn ra sự kiện. Do đó, nếu thời hạn của hợp đồng được xác định là bắt đầu vào ngày ký, hợp đồng thực tế sẽ có hiệu lực vào ngày hôm sau, điều có thể không phải là dự tính của các bên. Vì thế, một hợp đồng có thể có hiệu lực vào ngày ký nếu (1) được pháp luật quy định như vậy hoặc (2) các bên đồng ý về một phương pháp khác để tính thời hạn.

THÔNG TƯ MỚI VỀ VAY NGOẠI TỆ TỪ NGÂN HÀNG VIỆT NAM TRONG NĂM 2019

Vào ngày 28 tháng 12 năm 2018, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ban hành Thông tư 42 sửa đổi các quy định về cho vay ngoại tệ hiện hành (tại Thông tư 24 của NHNN ngày 8 tháng 12 năm 2015, được sửa đổi tại từng thời điểm (Thông Tư 24/2015)) (Thông tư 42/2018). Thông Tư 42/2018 sẽ có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2019.

Thay đổi mục đích cho vay được phép

Các ngân hàng Việt Nam chỉ cho vay bằng ngoại tệ đối với một số mục đích nhất định. Thông Tư 42/2018 có những thay đổi sau về các mục đích này:

1. Về việc bên vay có doanh thu ngoại tệ từ xuất khẩu, Thông Tư 42/2018 không quy định thời hạn áp dụng các điều khoản liên quan đến mục đích vay vốn ngắn hạn để thực hiện kế hoạch sản xuất và kinh doanh hàng hóa được xuất khẩu qua cửa khẩu biên giới Việt Nam. Các thông tư sửa đổi Thông Tư 24/2015 trước đây chỉ cho phép mục đích vay như vậy trên cơ sở từng năm;

THỜI GIAN TỔ CHỨC LẠI CUỘC HỌP HĐQT TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM

Theo Điều 153 của Luật Doanh Nghiệp 2014, Chủ tịch Hội đồng quản trị (Chủ Tịch HĐQT) phải triệu tập cuộc họp của HĐQT trong vòng 7 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu tổ chức họp bất thường. Trong trường hợp cuộc họp đầu tiên không có đủ từ ba phần tư tổng số thành viên HĐQT trở lên, cuộc họp thứ hai phải được triệu tập trong vòng bảy ngày kể từ ngày dự kiến tổ chức cuộc họp đầu tiên trừ trường hợp điều lệ công ty quy định một thời hạn ngắn hơn. 

Theo các quy định trên, có thể xảy ra tranh chấp về thời gian “triệu tập” của cuộc họp thứ hai. Một mặt có thể lập luận rằng cuộc họp thứ hai của HĐQT phải được tổ chức trong vòng 7 ngày hoặc một khoảng thời gian ngắn hơn được quy định trong điều lệ công ty.

NGHỊ ĐỊNH MỚI VỀ PHÁT HÀNH RIÊNG LẺ TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP CỦA CÁC CÁC CÔNG TY VIỆT NAM

Vào tháng 12 năm 2018, Chính Phủ đã ban hành Nghị Định 163/2018 để thay thế Nghị Định 90/2011 về việc phát hành riêng lẻ trái phiếu doanh nghiệp của các công ty Việt Nam từ tháng 2 năm 2019. Nghị Định 163/2018 đưa ra một số điểm mới quan trọng như sau:

· Để có thể phát hành trái phiếu, một công ty không còn cần phải có lãi trong năm trước khi dự kiến phát hành. Thay vào đó, công ty chỉ cần hoạt động ít nhất một năm và báo cáo tài chính của công ty được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán viên đủ điều kiện. Tổ chức phát hành đã trải qua việc tái cấu trúc nhất định (ví dụ: sáp nhập, chuyển đổi hoặc chia tách) có thể dựa vào lịch sử hoạt động của các công ty liên quan khác để đáp ứng điều kiện hoạt động một năm;

· Giao dịch thứ cấp của trái phiếu phát hành riêng lẻ bị giới hạn trong phạm vi tối đa 100 nhà đầu tư, ngoại trừ các “nhà đầu tư chuyên nghiệp”, trong vòng một năm kể từ ngày phát hành. Hạn chế mới dường như nhắm vào thực tiễn phát hành trái phiếu riêng lẻ ngay từ đầu và sau đó bán lại cho các nhà đầu tư công chúng trên thị trường thứ cấp;

DỰ THẢO SỬA ĐỔI LUẬT CHỨNG KHOÁN 2006 CỦA VIỆT NAM

Bộ Tài Chính vừa công bố dự thảo sửa đổi mới nhất cho Luật Chứng Khoán 2006 ( Https://Tinyurl.Com/Ydc44zyd ), dự kiến sẽ được thông qua vào nửa cuối năm 2019. Dường như bất kỳ luật lớn nào ở Việt Nam sẽ cần phải trải qua những thay đổi lớn trong mỗi 10 năm dù những thay đổi đó có cần thiết hay không. Dự thảo sửa đổi bao gồm những thay đổi lớn sau đây liên quan đến quá trình tăng vốn:

· Việc phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu riêng lẻ giờ đây chỉ có thể được thực hiện cho ít hơn 100 “nhà đầu tư chuyên nghiệp”, một hoặc các “nhà đầu tư chiến lược”. Không có định nghĩa về “nhà đầu tư chiến lược”. Định nghĩa về “nhà đầu tư chuyên nghiệp” được sửa đổi để bao gồm (1) công ty niêm yết có vốn điều lệ từ 1000 tỷ đồng trở lên và (2) cá nhân có giá trị ròng cao (high net-worth individuals) có kinh nghiệm và đủ tiêu chuẩn hành nghề giao dịch chứng khoán.

CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ TẠI VIỆT NAM - CÔNG NGHỆ CÓ PHẢI LÀ MỘT TÀI SẢN?

Luật Chuyển Giao Công Nghệ 2017 được soạn thảo dựa trên giả định rằng một công nghệ (công nghệ ) có thể được chuyển giao như một tài sản (tài sản). Nhưng theo các quy định của Bộ Luật Dân Sự 2015, có thể phải đặt ra câu hỏi liệu công nghệ có phải là tài sản không?

Chuyển giao công nghệ có nghĩa là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng công nghệ từ bên chuyển nhượng sang bên nhận chuyển nhượng. Ngoài ra, Điều 7 của Luật Chuyển Giao Công Nghệ 2017 nói rằng chủ sở hữu công nghệ có thể chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc cấp quyền sử dụng công nghệ đó. Do đó, Luật Chuyển Giao Công Nghệ 2017 ngụ ý rằng, để chuyển giao một công nghệ, bên chuyển nhượng phải có quyền sở hữu công nghệ đó. Theo Bộ Luật Dân Sự 2015, quyền sở hữu chỉ có thể được hình thành đối với một tài sản. Vì vậy, công nghệ theo Luật Chuyển Giao Công Nghệ 2017 phải là một tài sản.

Tuy nhiên, công nghệ theo định nghĩa của Luật Chuyển Giao Công Nghệ 2017 có thể không phải là một tài sản. Điều 2.2 của Luật Chuyển Giao Công Nghệ 2017 định nghĩa công nghệ là một giải pháp, quy trình và bí quyết có thể biến đổi nguồn lực thành sản phẩm. Điều 105 của Bộ Luật Dân Sự 2015 nói rằng tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá, và quyền tài sản.

THÔNG TƯ MỚI VỀ ĐĂNG KÝ THẾ CHẤP VÀ CÁC GIAO DỊCH BẢO ĐẢM KHÁC TẠI VIỆT NAM

Vào ngày 20 tháng 6 năm 2018, Bộ Tư Pháp đã ban hành Thông Tư 8 về việc đăng ký và cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm và hợp đồng (Thông Tư 8/2018). Thông Tư 8/2018 sẽ thay thế Thông Tư 5/2011 về cùng lĩnh vực từ ngày 4 tháng 8 năm 2018.

Tên của đối tượng đăng ký

Đối tượng đăng ký theo Thông Tư 5/2011 là các giao dịch bảo đảm, phù hợp với Bộ Luật Dân Sự 2005. Tuy nhiên, thuật ngữ “giao dịch bảo đảm” là gần như đã được đưa ra khỏi Bộ Luật Dân Sự 2015 và việc đăng ký bây giờ là đăng ký biện pháp bảo đảm. Thông Tư 8/2018 áp dụng cách tiếp cận như vậy và xác định đối tượng đăng ký là biện pháp bảo đảm để phù hợp với Bộ Luật Dân Sự 2015 mới.

Biện pháp bảo đảm được đăng ký với NRAST

· Phạm vi biện pháp bảo đảm có thể được đăng ký với Cơ Quan Đăng Ký Quốc Gia về Giao Dịch Bảo Đảm (NRAST) tại Thông Tư 8/2018 hiện nay không bao gồm đăng ký cầm cố, đặt cọc, ký cược và ký quỹ. Thông Tư 5/2011 có quy định việc đăng ký các biện pháp bảo đảm này nhưng không đưa ra hướng dẫn chi tiết về cách thức đăng ký.

QUYỀN SỞ HỮU TIỀN GỬI NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM

Hoạt động kinh doanh cốt lõi của một ngân hàng (Ngân Hàng) là nhận tiền (Tiền Gửi) được gửi bởi khách hàng (Người Gửi) và cho vay những khoản tiền đó cho người vay. Do đó, về mặt pháp lý, điều quan trọng là cần xác định ai sở hữu Tiền Gửi. Đáng tiếc, luật ngân hàng Việt Nam không làm rõ việc liệu sau khi Người Gửi thực hiện gửi Tiền Gửi cho Ngân Hàng, Ngân Hàng hay Người Gửi sở hữu Tiền Gửi.

Trường hợp là Ngân Hàng

Kết luận hợp lô ghích nhất là:

· Ngân Hàng là chủ sở hữu của Tiền Gửi;

· Người Gửi không phải là chủ sở hữu của Tiền Gửi, nhưng Người Gửi có quyền theo hợp đồng để yêu cầu Ngân Hàng trả lại Tiền Gửi cho Người Gửi theo các điều khoản về Tiền Gửi; và

· Người vay sẽ sở hữu Tiền Gửi sau khi vay Tiền Gửi từ Ngân Hàng.

QUY ĐỊNH VỀ ĐẦU TƯ THĂM DÒ VÀ KHAI THÁC DẦU KHÍ TẠI VIỆT NAM - XUNG ĐỘT LỢI ÍCH

Tại Việt Nam, các tổ chức, cá nhân nước ngoài và trong nước thực hiện các hoạt động dầu khí trên cơ sở hợp đồng dầu khí được ký với Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) hoặc các thỏa thuận khác ký với PVN hoặc Chính Phủ Việt Nam theo Luật Dầu Khí 1993.

Hợp đồng dầu khí có thể là hợp đồng chia sẻ sản phẩm (HĐCSSP), thỏa thuận liên doanh hoặc các hình thức khác nếu được Thủ Tướng Chính Phủ phê duyệt. Trừ khi được Thủ Tướng Chính Phủ phê duyệt, HĐCSSP phải tuân thủ mẫu hợp đồng chia sẻ sản phẩm dầu khí do Chính Phủ ban hành theo Nghị Định 33/2013.

PVN có quyền tham gia vào các hoạt động dầu khí với tư cách là nhà đầu tư đồng thời có quyền và thẩm quyền quản lý các hoạt động của nhà thầu và, trong một số trường hợp, được ủy quyền thay mặt Chính Phủ trong quan hệ với các nhà đầu tư khác trong các HĐCSSP. Điều này dẫn đến xung đột lợi ích lới đối với PVN khi đóng vai trò là nhà đầu tư theo HĐCSSP và đồng thời là cơ quan quản lý. Pháp luật Việt Nam không có quy định rõ ràng để kiểm soát xung đột lợi ích khi PVN tham gia đầu tư vốn với các nhà đầu tư khác trong hoạt động dầu khí và đồng thời thực hiện các quyền và thẩm quyền thuộc về một cơ quan nhà nước trong quan hệ với các nhà thầu đó theo HĐCSSP.

CHUYỂN GIAO DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC LỚN LỚN CỦA VIỆT NAM CHO ỦY BAN QUẢN LÝ VỐN NHÀ NƯỚC TẠI DOANH NGHIỆP

Kể từ ngày 29 tháng 9 năm 2018, theo Nghị Định 131/2018, Chính Phủ quyết định chuyển giao việc quản lý 19 doanh nghiệp nhà nước (DNNN) từ nhiều Bộ khác nhau sang cho Ủy Ban Quản Lý Vốn Nhà Nước tại Doanh Nghiệp (UBQLV). Tóm tắt chi tiết về từng DNNN được đưa ra dưới đây:

ĐỊNH NGHĨA VỀ CHO THUÊ TÀI CHÍNH THEO LUẬT VIỆT NAM

Các quy định về ngân hàng của Việt Nam không đưa ra định nghĩa rõ ràng về cho thuê tài chính. Việc thiếu một định nghĩa rõ ràng có thể dẫn đến các rủi ro pháp lý không đáng có cho các bên tham gia giao dịch cho thuê xuyên biên giới (ví dụ: cho thuê máy bay). Ví dụ, nếu một hợp đồng thuê xuyên biên giới được xem là cho thuê tài chính, thì hợp đồng thuê đó có thể cần phải được đăng ký với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam như một khoản vay nước ngoài.

Theo Luật Các Tổ Chức Tín Dụng 2010, hoạt động cho thuê tài chính được định nghĩa là (1) cấp tín dụng trung và dài hạn; (2) trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài chính; và (3) thỏa mãn một trong các điều kiện sau:

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG MUA BÁN NỢ TẠI VIỆT NAM

Dưới đây là một số vấn đề pháp lý trong việc chuyển nhượng các khoản nợ (Khoản Nợ) từ một tổ chức tín dụng (Bên Khởi Tạo) cho một công ty được phép kinh doanh mua bán nợ tại Việt Nam (Công Ty Mua Bán Nợ). Giao dịch Khoản Nợ giữa một tổ chức tín dụng và một tổ chức tín dụng có lợi cho tổ chức tín dụng để xử lý nợ xấu hoặc phát hành chứng khoán được bảo đảm bằng tài sản:

·         Các tổ chức tín dụng được phép thương lượng lãi suất cho vay dựa trên cung cầu thị trường và tín nhiệm tín dụng mà không bị hạn chế lãi suất tối đa ngoại trừ một số trường hợp. Trong khi đó, lãi suất của khoản vay cấp bởi các tổ chức phi tín dụng phải tuân thủ mức lãi suất tối đa 20%/năm theo Bộ Luật Dân Sự 2015. Trên thực tế, lãi suất cho vay tiêu dùng khá cao và có thể cao hơn mức lãi suất tối đa 20%/năm. Nếu lãi suất của các Khoản Nợ cao hơn 20% mỗi năm, thì không rõ theo luật liệu Công Ty Mua Bán Nợ, khi sở hữu Khoản Nợ, có thể tiếp tục tính lãi suất như vậy hay không;

YÊU CẦU NGHIÊM NGẶT HƠN VỀ TRANG WEB VÀ ỨNG DỤNG THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM

Ngày 20/8/2018, Bộ Công Thương (BCT) đã ban hành Thông Tư 21/2018 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông Tư 47 của BCT ngày 05/12/2014 về quản lý trang web thương mại điện tử (Thông tư 47/2014) và Thông tư 59 của BCT ngày 31 tháng 12 năm 2015 về quản lý hoạt động thương mại điện tử thông qua các ứng dụng trên thiết bị di động (Thông tư 59/2015). Dưới đây là một số quy định đáng chú ý của Thông Tư 21/2018.

Liên quan tới Thông tư 47/2014, Thông Tư 21/2018 đã sửa đổi, bổ sung như sau:

·         bãi bỏ danh mục các chủ thể yêu cầu phải thông báo về các trang web mua sắm trực tuyến của mình. Theo đó, Nghị Định 52/2013 yêu cầu mọi thương nhân, tổ chức hoặc cá nhân thiết lập trang web thương mại điện tử phải thông báo các trang web đó tại cổng thông tin của BCT tại www.Online.Gov.Vn. Thông Tư 47/2014 chỉ yêu cầu một số chủ thể nhất định phải thông báo về các trang web này;

QUY ĐỊNH MỚI VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

Ngày 15/10/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định 143/2018, quy định chi tiết các nội dung về bảo hiểm xã hội bắt buộc (BHXH) áp dụng đối với lao động nước ngoài theo Luật BHXH năm 2014. Trước khi ban hành Nghị Định 143/2018, Luật BHXH 2014 chỉ quy định rằng người lao động nước ngoài sẽ “được” tham gia chương trình BHXH của Việt Nam từ ngày 1 tháng 1 năm 2018. Trong một thời gian dài, quy định mơ hồ này đã gây ra các vướng mắc về việc liệu việc đóng góp BHXH cho người lao động nước ngoài là bắt buộc hay tự nguyện. Nghị Định 143/2018 giờ đây chính thức xác nhận rằng việc này là bắt buộc. Cụ thể là,

·         Việc đóng BHXH sẽ được áp dụng cho cả người lao động nước ngoài và người sử dụng lao động của họ nếu người lao động nước ngoài: (1) đang làm việc tại Việt Nam theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc hợp đồng lao động có thời hạn từ một năm trở lên với người sử dụng lao động tại Việt Nam; và (2) có (i) giấy phép lao động, hoặc (ii) chứng chỉ hành nghề, hoặc (iii) giấy phép hành nghề do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp;

YÊU CẦU CẤP GIẤY PHÉP ĐỐI VỚI QUYỀN XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI (FIES) THỰC HIỆN QUYỀN PHÂN PHỐI TẠI VIỆT NAM

Trong một Bài Viết gần đây, chúng tôi đã phân tích khái niệm “bán buôn” và “bán lẻ” với tư cách là hai hình thức hoạt động theo các quy định liên quan đến hoạt động thương mại của các FIE tại Việt Nam. Từ khía cạnh thương mại, các hoạt động “phân phối” nên bao gồm việc mua hoặc nhập khẩu hàng hóa từ các nhà cung cấp để bán cho khách hàng. Vì vậy, nếu một FIE đã đăng ký ngành nghề kinh doanh phân phối (ví dụ, bán buôn hoặc bán lẻ), FIE đó sẽ mặc nhiên có thể nhập khẩu hàng hóa để bán trong trong phạm vi quyền phân phối của mình mà không phải tuân thủ thêm các yêu cầu cấp phép. Tuy nhiên, điều này có thể không hợp lý theo khía cạnh pháp lý bởi lẽ việc mua hàng hóa để bán ở Việt Nam hoặc ở nước ngoài bởi một FIE được phân loại như hình thức mua bán khác và phải được cấp phép trước khi thực hiện. Theo quy định của Việt Nam,

VẤN ĐỀ LIÊN QUAN TỚI LỰA CHỌN TRỌNG TÀI GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP XÂY DỰNG TẠI VIỆT NAM

Theo Luật Xây Dựng 2014, một tranh chấp liên quan đến hợp đồng xây dựng có thể được giải quyết thông qua hòa giải, bởi trọng tài thương mại hoặc tòa án “theo quy định của pháp luật”. Câu chữ mang tính tiêu chuẩn này dường như cho phép các bên tham gia tranh chấp xây dựng tại Việt Nam lựa chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, Thông Tư 26/2016 của Bộ Xây Dựng quy định rằng tranh chấp liên quan đến chất lượng công trình xây dựng sẽ được giải quyết theo các bước sau:

(1) thương lượng giữa các bên tranh chấp;

(2) thuê một tổ chức hoặc cá nhân có năng lực thực hiện đánh giá chất lượng của các bộ phận, hạng mục công trình xây dựng, và đề xuất giải pháp khắc phục; và

(3) khởi kiện và giải quyết tranh chấp thông qua tòa án.

ỦY QUYỀN BIỂU QUYẾT CỦA THÀNH VIÊN HĐQT TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN VIỆT NAM

Luật Doanh Nghiệp 2014 quy định rằng trong cuộc họp Hội đồng quản trị (HĐQT) của một công ty cổ phần (CTCP), một thành viên HĐQT có thể ủy quyền cho một người khác tham dự nếu việc ủy quyền đó được đa số thành viên HĐQT. Tuy nhiên, Luật Doanh Nghiệp 2014 không có quy định về khả năng thành viên HĐQT ủy quyền cho người khác biểu quyết thay cho thành viên HĐQT đó nếu HĐQT quyết định thông qua quyết định bằng văn bản.

Có thể lập luận rằng việc ủy ​​quyền để biểu quyết thông qua hình thức lấy ý kiến ​​bằng văn bản của các thành viên HĐQT được cho phép bởi vì:

KHÁI NIỆM BÁN BUÔN / BÁN LẺ THEO LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

Nghị định 9/2018 đưa ra một cách tiếp cận mới về các hoạt động thương mại của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FIE) tại Việt Nam. Cụ thể, việc bán buôn hầu hết các mặt hàng không phải tuân thủ yêu cầu về Giấy Phép Kinh Doanh. Tuy nhiên, Nghị định 9/2018 vẫn không rõ ràng trong việc phân loại hoạt động bán buôn và bán lẻ. Việc định nghĩa rõ ràng hơn các khái niệm này là quan trọng bởi lẽ một FIE thực hiện các hoạt động bán lẻ phải xin cấp Giấy Phép Kinh Doanh từ Bộ Công Thương (BCT).

Theo Nghị định 9/2018,

·         “Bán buôn” là hoạt động bán hàng hóa cho (a) người bán buôn, (b) người bán lẻ và (c) các thương nhân, tổ chức khác; không bao gồm các hoạt động bán lẻ;

·         “Bán lẻ” là hoạt động bán hàng hóa cho (a) cá nhân, (b) hộ gia đình, và (c) các tổ chức khác nhằm mục đích tiêu dùng.

Có một số vấn đề phát sinh từ các định nghĩa trên theo Nghị định 9/2018: