Việc trao đổi với ứng viên trọng tài của một bên theo thủ tục tố tụng trọng tài VIAC

Điều 16.4 của Quy Tắc Tố Tụng Trọng Tài VIAC không cho phép một trọng tài viên gặp riêng hoặc liên hệ với bất kỳ bên nào liên quan đến vụ tranh chấp “trong quá trình tố tụng trọng tài”. Các quy tắc của VIAC không điều chỉnh việc trao đổi giữa một bên với một ứng viên trọng tài trước khi bên đó chỉ định ứng viên của mình. Do đó, một bên trong quá trình tố tụng trọng tài VIAC được cho là có thể gặp mặt và thảo luận riêng với một ứng viên trọng tài để trao đổi về vụ tranh chấp. Cụ thể,

· Vì theo quy tắc tố tụng trọng tài của VIAC, một quá trình tố tụng trọng tài bắt đầu khi VIAC nhận được Đơn Khởi Kiện bao gồm các chi tiết về trọng tài viên được chỉ định của Nguyên Đơn. Do đó, Nguyên Đơn có thể lập luận rằng mình có thể gặp riêng với một ứng viên trọng tài để trao đổi về tranh chấp với ứng viên trọng tài trước khi bắt đầu quá trình tố tụng trọng tài miễn là việc trao đổi đó không vi phạm các quy tắc khác của VIAC.

Thiệt Hại Về Uy Tín phát sinh từ các vi phạm hợp đồng thương mại theo pháp luật Việt Nam

Ở Việt Nam, việc bên bị vi phạm yêu cầu bồi thường đối với những thiệt hại mà gây tổn hạiđến uy tín của mình (Thiệt Hại Về Uy Tín) do các vi phạm hợp đồng thương mại gây ra bởi bên vi phạm thì không phổ biến. Tuy nhiên, về nguyên tắc, Thiệt Hại Về Uy Tín do vi phạm hợp đồng thương mại nên được bồi thường và đền bù theo pháp luật Việt Nam vì các lý do sau:

· Theo Điều 419.3 và 361.3 của Bộ Luật Dân Sự 2015, bên bị vi phạm có thể yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần phát sinh từ hành vi vi phạm hợp đồng, trong đó bao gồm, bên cạnh những thiệt hại về tinh thần khác, thiệt hại về tinh thần do xâm phạm uy tín;

· Thiệt Hại Về Uy Tín có thể được coi là “tổn thất thực tế và trực tiếp” theo Điều 302.2 của Luật Thương mại 2005 nếu bên bị vi phạm đã thực tế phải chịu tổn thất về uy tín phát sinh trực tiếp từ hành vi vi phạm hợp đồng gây ra bởi bên vi phạm;

Bản chất của kinh doanh “voucher” theo luật Việt Nam

Tại Việt Nam, voucher (phiếu mua hàng) không chỉ được sử dụng như một phương thức khuyến mại, mà còn là một loại “sản phẩm” được bán trên rất nhiều trang thương mại điện tử. Cụ thể, một bên kinh doanh voucher có thể bán voucher cho các người sử dụng của mình, mà các voucher đó có thể được sử dụng cho các hàng hóa hoặc dịch vụ nhất định cung cấp bởi các nhà phân phối nhất định. Người sử dụng sau đó sẽ sử dụng voucher để có được hàng hóa hoặc dịch vụ từ các nhà phân phối thường là với giá chiết khấu. Như phân tích dưới đây của chúng tôi sẽ cho thấy, bản chất pháp lý của việc kinh doanh voucher tại Việt Nam là chưa rõ ràng, và vì vậy các mô hình kinh doanh dựa trên việc mua bán voucher có thể phát sinh những rủi ro nhất định.

Voucher không phải là một loại hàng hóa hay dịch vụ

Mặc dù luật không đề cập đến vấn đề này, các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam có vẻ như cho rằng voucher không phải là hàng hóa hay dịch vụ:

· Nhiều hướng dẫn từ Tổng Cục Thuế quy định rằng các công ty không thể phát hành hóa đơn Thuế Giá Trị Gia Tăng (GTGT) đối với việc mua bán voucher. Trong khi đó, theo Điều 3 của Luật Thuế GTGT 2008, tất cả các “hàng hóa, dịch vụ” được sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng tại Việt Nam phải chịu thuế GTGT, trừ một số lượng hạn chế hàng hóa hoặc dịch vụ không chịu thuế quy định bởi luật; và

Nghĩa vụ chứng minh liên quan đến nghĩa vụ hạn chế tổn thất trong trường hợp có yêu cầu bồi thường thiệt hại theo pháp luật hợp đồng Việt Nam

Theo Luật Thương Mại 2005, khi bên bị vi phạm yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm hợp đồng, bên bị vi phạm sẽ có nghĩa vụ hạn chế tổn thất mà mình phải gánh chịu (Trách Nhiệm Hạn Chế Tổn Thất). Tuy nhiên, Luật Thương Mại 2005 chưa quy định cụ thể liệu trách nhiệm chứng minh việc bên bị vi phạm đã (hoặc chưa) hoàn thành Trách Nhiệm Hạn Chế Tổn Thất sẽ thuộc về bên vi phạm hay bên bị vi phạm. Mặc dù vậy, có khả năng bên vi phạm sẽ có trách nhiệm chứng minh rằng bên bị vi phạm đã không hạn chế các thiệt hại mà bên đó phải gánh chịu.

Một mặt, có thể lập luận rằng bên bị vi phạm sẽ có nghĩa vụ chứng minh rằng mình đã thực hiện Trách Nhiệm Hạn Chế Tổn Thất bởi Điều 304 Luật Thương Mại 2005 quy định rằng bên yêu cầu bồi thường thiệt hại phải chứng minh được “tổn thất, mức độ tổn thất” gây ra bởi hành vi vi phạm hợp đồng của bên vi phạm. Như vậy, có thể hiểu rằng, “mức độ tổn thất” phải được chứng minh bởi bên bị vi phạm sẽ không bao gồm khoản tổn thất đã có thể được hạn chế nếu bên bị vi phạm đã hoàn thành Trách Nhiệm Hạn Chế Tổn Thất ( hay tất cả các biện pháp hợp lý đã được tiến hành nhằm hạn chế tổn thất). Nói cách khác, để chứng minh hoặc yêu cầu bên vi phạm bồi thường một khoản thiệt hại cụ thể, bên bị vi phạm phải tính đến yếu tố Trách Nhiệm Hạn Chế Tổn Thất của mình đã được hoàn thành và sẽ có trách nhiệm chứng minh mình đã tuân thủ Trách Nhiệm Hạn Chế Tổn Thất.