KHI NÀO TIỀN CỌC BẢO ĐẢM TẠI VIỆT NAM CÓ THỂ BỊ MẤT?

Đặt cọc là một biện pháp bảo đảm.  Đặt cọc là việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng. Điều 328.2 của Bộ Luật Dân Sự 2015 quy định rằng bên nhận đặt cọc (tức là bên bên nhận bảo đảm) có thể sở hữu tiền gửi khi bên đặt cọc (tức là bên bảo đảm) “từ chối” thực hiện hợp đồng. Từ “từ chối” chỉ ra rằng bên có liên quan có thể cần phải từ chối rõ ràng việc thực hiện hợp đồng. Và Bộ Luật Dân Sự 2015 không rõ liệu việc không thực hiện có thể được coi là một sự từ chối thực hiện hợp đồng hay không. Để làm rõ điểm này, một thỏa thuận đặt cọc cần quy định rằng việc không thực hiện hợp đồng sẽ được coi là việc từ chối thực hiện hợp đồng.

NGHỊ QUYẾT MỚI CỦA TÒA ÁN TỐI CAO VỀ LÃI VAY TẠI VIỆT NAM

Vào ngày 11 tháng 1 năm 2019, Tòa án Tối cao đã ban hành Nghị Quyết 1 hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất và phạt vi phạm liên quan (Nghị Quyết 1/2019). Nghị Quyết 1/2019 sẽ có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 3 năm 2019. Dưới đây là một số quy định đáng chú ý của Nghị Quyết 1/2019

·         Nghị Quyết 1/2019 quy định rõ rằng giới hạn lãi suất của Bộ Luật Dân Sự 2005 và 2015 sẽ không áp dụng cho các hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng. Trước đây, đã có nhiều cuộc tranh luận liên quan đến việc liệu giới hạn lãi suất của Bộ Luật Dân Sự 2005 và 2015 có áp dụng cho các hợp đồng tín dụng hay không.

·         Nếu lãi suất, lãi quá hạn trên tiền gốc và lãi quá hạn trên lãi cao hơn giới hạn cho phép, thì tiền lãi vượt quá đã được trả sẽ được khấu trừ từ tiền gốc của khoản vay.

CHỮ KÝ ĐIỆN TỬ VÀ CHỮ KÝ SỐ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Theo Luật Giao Dịch Điện Tử, chữ ký điện tử được định nghĩa là được tạo ra dưới dạng từ, chữ viết, chữ số, ký hiệu, âm thanh hoặc dưới dạng khác bằng phương tiện điện tử, gắn liền hoặc kết hợp một cách lô ghích với thông điệp dữ liệu và có khả năng xác nhận người ký thông điệp dữ liệu và xác nhận sự đồng ý của người đó với nội dung thông điệp dữ liệu được ký.

Theo Điều 24.1 của Luật Giao Dịch Điện Tử, chữ ký điện tử của một cá nhân được gắn vào thông điệp dữ liệu sẽ có giá trị pháp lý tương đương với chữ ký của cá nhân đó được gắn với một tài liệu bằng văn bản nếu:

· Phương pháp tạo chữ ký điện tử cho phép xác minh được người ký và chứng tỏ được sự chấp thuận của người ký đối với nội dung của thông điệp dữ liệu; và

HÀNH ĐỘNG TẬP THỂ BỞI TRÁI CHỦ TẠI VIỆT NAM

Cơ chế hành động tập thể giữa các trái chủ là một trong những điểm phổ biến trong các điều khoản và điều kiện của trái phiếu doanh nghiệp.  Hai đặc điểm quan trọng của cơ chế hành động tập thể là:

· Việc sử dụng Đại Diện Được Ủy Nhiệm (Bond Trustee) để hành động vì lợi ích của trái chủ; và

· Việc sử dụng Hội nghị của các Trái Chủ cho phép việc đưa ra một quyết định của đa số (hoặc đại đa số) trái chủ liên quan đến trái phiếu (ví dụ: thay đổi các điều khoản của trái phiếu) để ràng buộc các trái chủ thiểu số không đồng ý với quyết định đó.

Có thể cho rằng, nếu các điều khoản về cuộc họp của các trái chủ được quy định trong các điều khoản của trái phiếu và trái chủ đồng ý với điều khoản đó thì các quy định về giao dịch dân sự theo Bộ Luật Dân Sự 2015 có thể cho phép việc sử dụng cuộc họp của các trái chủ tại Việt Nam. Tuy nhiên, hiệu lực của quyết định được đưa ra tại cuộc họp trái chủ trong đó không được chấp thuận bởi tất cả các trái chủ vẫn còn là một câu hỏi theo luật pháp Việt Nam. Điều này là bởi:

XÁC ĐỊNH THỜI HẠN HẠN HỢP ĐỒNG THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM 2015

Thông thường, một hợp đồng sẽ quy định một điều khoản xác định thời hạn có hiệu lực của hợp đồng đó. Trong điều khoản đó, những thời điểm hợp đồng có hiệu lực và chấm dứt hiệu lực được xác định, cho dù bằng một khoảng thời gian hoặc sự kiện nhất định. Tuy nhiên, Bộ Luật Dân Sự 2015 không có bất kỳ quy định nào về “thời hạn” của các hợp đồng. Thay vào đó, Bộ Luật Dân Sự 2015 có các quy định riêng cho (i) thời hạn và (ii) thời điểm hợp đồng có hiệu lực và các trường hợp chấm dứt hợp đồng.

Theo Bộ Luật Dân Sự 2015, theo mặc định, việc bắt đầu một thời hạn bằng cách tham chiếu đến một sự kiện sẽ bắt đầu vào ngày ngay sau ngày diễn ra sự kiện đó chứ không phải là ngày diễn ra sự kiện. Do đó, nếu thời hạn của hợp đồng được xác định là bắt đầu vào ngày ký, hợp đồng thực tế sẽ có hiệu lực vào ngày hôm sau, điều có thể không phải là dự tính của các bên. Vì thế, một hợp đồng có thể có hiệu lực vào ngày ký nếu (1) được pháp luật quy định như vậy hoặc (2) các bên đồng ý về một phương pháp khác để tính thời hạn.

CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ TẠI VIỆT NAM - CÔNG NGHỆ CÓ PHẢI LÀ MỘT TÀI SẢN?

Luật Chuyển Giao Công Nghệ 2017 được soạn thảo dựa trên giả định rằng một công nghệ (công nghệ ) có thể được chuyển giao như một tài sản (tài sản). Nhưng theo các quy định của Bộ Luật Dân Sự 2015, có thể phải đặt ra câu hỏi liệu công nghệ có phải là tài sản không?

Chuyển giao công nghệ có nghĩa là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng công nghệ từ bên chuyển nhượng sang bên nhận chuyển nhượng. Ngoài ra, Điều 7 của Luật Chuyển Giao Công Nghệ 2017 nói rằng chủ sở hữu công nghệ có thể chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc cấp quyền sử dụng công nghệ đó. Do đó, Luật Chuyển Giao Công Nghệ 2017 ngụ ý rằng, để chuyển giao một công nghệ, bên chuyển nhượng phải có quyền sở hữu công nghệ đó. Theo Bộ Luật Dân Sự 2015, quyền sở hữu chỉ có thể được hình thành đối với một tài sản. Vì vậy, công nghệ theo Luật Chuyển Giao Công Nghệ 2017 phải là một tài sản.

Tuy nhiên, công nghệ theo định nghĩa của Luật Chuyển Giao Công Nghệ 2017 có thể không phải là một tài sản. Điều 2.2 của Luật Chuyển Giao Công Nghệ 2017 định nghĩa công nghệ là một giải pháp, quy trình và bí quyết có thể biến đổi nguồn lực thành sản phẩm. Điều 105 của Bộ Luật Dân Sự 2015 nói rằng tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá, và quyền tài sản.

THÔNG TƯ MỚI VỀ ĐĂNG KÝ THẾ CHẤP VÀ CÁC GIAO DỊCH BẢO ĐẢM KHÁC TẠI VIỆT NAM

Vào ngày 20 tháng 6 năm 2018, Bộ Tư Pháp đã ban hành Thông Tư 8 về việc đăng ký và cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm và hợp đồng (Thông Tư 8/2018). Thông Tư 8/2018 sẽ thay thế Thông Tư 5/2011 về cùng lĩnh vực từ ngày 4 tháng 8 năm 2018.

Tên của đối tượng đăng ký

Đối tượng đăng ký theo Thông Tư 5/2011 là các giao dịch bảo đảm, phù hợp với Bộ Luật Dân Sự 2005. Tuy nhiên, thuật ngữ “giao dịch bảo đảm” là gần như đã được đưa ra khỏi Bộ Luật Dân Sự 2015 và việc đăng ký bây giờ là đăng ký biện pháp bảo đảm. Thông Tư 8/2018 áp dụng cách tiếp cận như vậy và xác định đối tượng đăng ký là biện pháp bảo đảm để phù hợp với Bộ Luật Dân Sự 2015 mới.

Biện pháp bảo đảm được đăng ký với NRAST

· Phạm vi biện pháp bảo đảm có thể được đăng ký với Cơ Quan Đăng Ký Quốc Gia về Giao Dịch Bảo Đảm (NRAST) tại Thông Tư 8/2018 hiện nay không bao gồm đăng ký cầm cố, đặt cọc, ký cược và ký quỹ. Thông Tư 5/2011 có quy định việc đăng ký các biện pháp bảo đảm này nhưng không đưa ra hướng dẫn chi tiết về cách thức đăng ký.

QUYỀN SỞ HỮU TIỀN GỬI NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM

Hoạt động kinh doanh cốt lõi của một ngân hàng (Ngân Hàng) là nhận tiền (Tiền Gửi) được gửi bởi khách hàng (Người Gửi) và cho vay những khoản tiền đó cho người vay. Do đó, về mặt pháp lý, điều quan trọng là cần xác định ai sở hữu Tiền Gửi. Đáng tiếc, luật ngân hàng Việt Nam không làm rõ việc liệu sau khi Người Gửi thực hiện gửi Tiền Gửi cho Ngân Hàng, Ngân Hàng hay Người Gửi sở hữu Tiền Gửi.

Trường hợp là Ngân Hàng

Kết luận hợp lô ghích nhất là:

· Ngân Hàng là chủ sở hữu của Tiền Gửi;

· Người Gửi không phải là chủ sở hữu của Tiền Gửi, nhưng Người Gửi có quyền theo hợp đồng để yêu cầu Ngân Hàng trả lại Tiền Gửi cho Người Gửi theo các điều khoản về Tiền Gửi; và

· Người vay sẽ sở hữu Tiền Gửi sau khi vay Tiền Gửi từ Ngân Hàng.

NGHỊ ĐỊNH MỚI VỀ ĐĂNG KÝ THẾ CHẤP VÀ CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM KHÁC Ở VIỆT NAM

Ngày 15 tháng 10 năm 2017, Nghị định 102 của Chính Phủ ngày 1 tháng 9 năm 2017 về đăng ký giao dịch bảo đảm (Nghị Định 102/2017) chính thức có hiệu lực. Nghị Định 102 thay thế Nghị Định 83 của Chính Phủ ngày 23 tháng 7 năm 2010 (Nghị Định 83/2010) về cùng vấn đề. Nghị Định 102/2017 đưa ra một số điểm mới như sau:

·         Việc thế chấp đối với tài sản gắn liền với đất phải được đăng ký nếu tài sản đó đã được ghi nhận trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trước Nghị Định 102/2017. Việc đăng ký thế chấp đối với các tài sản gắn liền với đất không phải là bắt buộc.

·         Các thủ tục đăng ký bảo lưu quyền sở hữu (một biện pháp bảo đảm mới theo quy định của Bộ Luật Dân Sự 2015) được đưa ra;

KHI NÀO MỘT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG ĐƯỢC TỰ ĐỘNG GIA HẠN Ở VIỆT NAM

Theo quy định tại Điều 22.2 của Bộ Luật Lao Động 2012, khi một hợp đồng lao động xác định thời hạn hoặc hợp đồng mùa vụ (Hợp Đồng Cũ) hết thời hạn, và người lao động tiếp tục làm việc, thì trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hết hạn của Hợp Đồng Cũ đó (Ngày Hết Hạn) các bên phải tiến hành giao kết hợp đồng mới; nếu hợp đồng lao động mới không được ký, thì Hợp Đồng Cũ sẽ lần lượt trở thành hợp đồng không xác định thời hạn hoặc hợp đồng xác định thời hạn với thời hạn 24 tháng (Hợp Đồng Mới). Quy định này được diễn giải theo nhiều cách khác nhau như sau:

LUẬT MỚI VỀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM

Luật mới về Chuyển Giao Công Nghệ sẽ có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2018. Luật Chuyển Giao Công Nghệ mới quy định lại yêu cầu về đăng ký đối với việc chuyển giao công nghệ xuyên biên giới, nội dung đã được bãi bỏ theo quy định của Luật Chuyển Giao Công Nghệ hiện hành năm 2006. Việc đăng ký là điều kiện để hợp đồng chuyển giao công nghệ có giá trị pháp lý. Tuy nhiên, luật mới không áp đặt bất kỳ hạn chế cụ thể nào về hợp đồng chuyển giao công nghệ như thời hạn tối đa của hợp đồng hay mức trần phí chuyển giao. Nếu không có các hạn chế này, không rõ là các cơ quan cấp phép sẽ dựa trên cơ sở nào để cho phép đăng ký hoặc từ chối đăng ký đối với hợp đồng chuyển giao công nghệ.

Bài viết được đóng góp một phần bởi Nguyễn Lan Chi, thực tập sinh tại Venture North Law.

THỨ TỰ ƯU TIÊN THANH TOÁN GIỮA CÁC GIAO DỊCH BẢO ĐẢM KHÔNG PHÁT SINH HIÊU LỰC ĐỐI KHÁNG

Theo quy định tại Điều 308 của BLDS 2015, trường hợp các giao dịch bảo đảm liên quan tới cùng một tài sản không phát sinh hiệu lực đối kháng với một bên thứ ba (giao dịch bảo đảm không phát sinh hiệu lực đối kháng), thứ tự thanh toán sẽ được xác định theo thứ tự xác lập các giao dịch bảo đảm không phát sinh hiệu lực đối kháng. Điều 47a của Nghị Định 163/2006 cũng đưa ra quy định tương tự về thứ tự ưu tiên thanh toán giữa bên nhận bảo lãnh với các giao dịch không phát sinh hiệu lực đối kháng khác. Cụ thể, thứ tự ưu tiên thanh toán giữa bên nhận bảo lãnh với các giao dịch không phát sinh hiệu lực đối kháng khác cũng sẽ được xác định theo thứ tự mà các giao dịch đó được xác lập.

Có một số vấn đề pháp lý phát sinh từ các quy định này như sau:

·         Nếu một giao dịch bảo đảm không phát sinh hiệu lực đối khác với một bên thứ ba thì về mặt lô gich, giao dịch đó cũng sẽ không phát sinh hiệu lực đối kháng với các giao dịch khác. Tuy nhiên, Điều 308 của BLDS 2015 đã làm cho một giao dịch bảo đảm không phát sinh hiệu lực đối kháng trở nên đối kháng với các giao dịch bảo đảm không phát sinh hiệu lực đối kháng khác được giao kết sau giao dịch đó;

NĂNG LỰC PHÁP LUẬT CỦA CHI NHÁNH CÔNG TY TẠI VIỆT NAM THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015

Theo quy định của Bộ Luật Dân Sự 2015 (BLDS 2015), năng lực pháp luật của chi nhánh bị hạn chế. Cụ thể là, chi nhánh không thể nhân danh chính mình giao kết hợp đồng bởi vì nó không phải là pháp nhân hay thể nhân tự nhiên. Bên cạnh đó, trong khi không hoàn toàn rõ ràng (xem phía dưới), có quan điểm cho rằng chi nhánh không còn khả năng đại diện cho công ty mẹ của mình. Vì vậy, không rõ là liệu một hợp đồng ký bởi chi nhánh với tư cách là đại diện cho công ty mẹ có giá trị pháp lý theo quy định mới của BLDS 2015 hay không. Điều này là bởi theo quy định của BLDS 2015,

·         Chỉ có thể nhân tự nhiên và pháp nhân mới có thể tự nhân danh chính mình giao kết hợp đồng;

·         Chỉ có thể nhân tự nhiên hoặc pháp nhân có thể trở thành người đại diện cho một người khác (thể nhân tự nhiên hoặc pháp nhân); và

·         BLDS 2005 đã từng quy định rằng chức năng của chi nhánh bao gồm chức năng đại diện theo ủy quyền. Tuy nhiên, quy định này đã bị loại bỏ khỏi BLDS 2015.

MUA CỔ PHIẾU TỪ MỘT CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM

Khi mua cổ phiếu niêm yết của một công ty cổ phần đại chúng (CTCP Đại Chúng) từ một cá nhân bán cổ phiếu thông qua tài khoản chứng khoán của người đó, người mua sẽ không phải xác định quyền bán của cá nhân đó đối với số cổ phần đã niêm yết theo Luật Hôn Nhân và Gia Đình 2014 nếu:

·           cổ phiếu niêm yết không phải là nguồn thu nhập chính của người bán và vợ/chồng của người đó (nếu người bán đã kết hôn); và

·           người mua là một người mua ngay tình không biết và không phải biết rằng người bán đã kết hôn hoặc không có quyền bán số cổ phiếu niêm yết đó theo Luật Hôn Nhân và Gia Đình 2014.

Bộ Luật Dân Sự 2015 – Rủi ro cho bên chuẩn bị dự thảo đầu tiên của hợp đồng tại Việt Nam

Điều 404.6 Bộ Luật Dân Sự 2015 quy định, trường hợp bên soạn thảo bổ sung thêm nội dung hợp đồng mà gây bất lợi cho bên kia thì hợp đồng sẽ được giải thích theo hướng có lợi cho bên kia. Quy định này không chỉ áp dụng cho hợp đồng tiêu dùng mà còn áp dụng với các hợp đồng thương mại giữa hai bên đã có kinh nghiệm thương mại (commercially sophisticated party). Theo đó, có rủi ro là bên soạn thảo hợp đồng thương mại có thể phải chịu rủi ro hợp đồng sẽ được giải thích theo hướng có lợi cho bên kia khi phát sinh tranh chấp trong tương lai. Do đó, các bên, khi đàm phán hợp đồng, cần lưu tâm đến điều khoản nào được soạn thảo bởi bên nào trong hợp đồng.

Rất khó để hiểu được lý luận của Điều 404.6 Bộ Luật Dân Sự 2015. Khi một bên đưa vào hợp đồng một điều khoản, túc là bên đó đang hành động để bảo vệ lợi ích của mình trong hợp đồng, và trong nhiều trường hợp, điều khoản đó có thể gây bất lợi đối với bên còn lại. Đây là lý do tại sao các bên cần phải đàm phán với nhau để đạt được thỏa thuận thống nhất. Và thỏa thuận đó có thể là kết quả của quá trình thương lượng, đàm phán phức tạp giữa các bên. Một bên có thể chấp nhận một điều khoản bất lợi đối với mình trong hợp đồng, để đối lại một điều khoản có lợi khác trong hợp đồng. Nếu luật quy định, tòa án hoặc trọng tài giải thích một điều khoản được đưa ra bởi một bên như trên theo hướng có lợi cho bên còn lại thì việc này có thể làm ảnh hưởng đến thỏa thuận của hai bên trong hợp đồng, bởi lẽ các bên không thể chắc chắn rằng, nội dung của hợp đồng sẽ được giải thích theo ý chí thỏa thuận ban đầu của các bên.

Một điều khoản quy định rằng, hợp đồng sẽ không được giải thích theo hướng bất lợi cho bên soạn thảo Hợp đồng trên cơ sở bên đó đã soạn thảo hợp đồng này hoặc bất cứ phần nào của hợp đồng, sẽ giảm thiểu rủi ro phát sinh tại Điều 404.6 của Bộ Luật Dân Sự 2015. Tuy nhiên, dưới sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam, các bên trong hợp đồng có thể cân nhắc thêm vào hợp đồng một điều khoản quy định rằng, hợp đồng đã được soạn thảo bởi tất cả các bên và theo đó Điều 404.6 Bộ Luật Dân Sự 2015 sẽ không áp dụng cho việc giải thích hợp đồng.

 

 

ĐIỂM MỚI VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI HỢP ĐỒNG CÓ YÊU TỐ NƯỚC NGOÀI

Bộ Luật Dân Sự 2015 có hiệu lực từ ngày 1/1/2017 đã đưa ra nguyên tắc mới về lựa chọn luật áp dụng đối với hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài, đặc biệt với hợp đồng có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài. Theo đó, các bên trong hợp đồng sẽ có quyền thỏa thuận lựa chọn pháp luật nước ngoài là pháp luật áp dụng đối với hợp đồng, ngoại trừ các trường hợp sau đây:

·         Hậu quả của việc áp dụng pháp luật nước ngoài trái với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam. Bộ Luật Dân Sự 2015 đưa ra một số nguyên tắc cơ bản của Pháp Luật Dân Sự Việt Nam, những nguyên tắc này được coi là một phần trong số các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam;

·         Không xác định được nội dung của pháp luật nước ngoài mặc dù đã áp dụng các biện pháp cần thiết theo quy định của pháp luật tố tụng (hoặc các nguyên tắc tố tụng khác). Không rõ liệu quy định này có hạn chế việc tìm kiếm các nguồn luật nước ngoài hoặc áp dụng cho việc giải thích pháp luật nước ngoài hay không. Mặt khác, theo Bộ Luật Dân Sự 2015, trường hợp pháp luật nước ngoài được áp dụng nhưng có cách hiểu khác nhau thì việc áp dụng phải theo sự giải thích của cơ quan có thẩm quyền tại nước đó. Như vậy, nếu một luật sư nước ngoài cung cấp và giải thích bằng chứng dựa trên cơ sở pháp luật nước ngoài sẽ có khả năng không được chấp nhận ở Việt Nam;

·         Hợp đồng liên quan đến việc chuyển giao quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là bất động sản, thuê bất động sản hoặc việc sử dụng bất động sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì pháp luật áp dụng là pháp luật Việt Nam nếu bất động sản đó được đặt tại Việt Nam;

·         Hợp đồng lao động hoặc Hợp đồng giao kết với người tiêu dùng áp dụng pháp luật Việt Nam trong trường hợp pháp luật nước ngoài do các bên lựa chọn ảnh hưởng đến quyền lợi tối thiểu của người lao động, người tiêu dùng theo quy định của pháp luật Việt Nam;

·         Các bên có thể thỏa thuận thay đổi pháp luật áp dụng đối với hợp đồng nhưng việc thay đổi đó không được ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba được hưởng trước khi thay đổi pháp luật áp dụng, trừ trường hợp người thứ ba đồng ý. Bộ Luật Dân Sự 2015 không giải thích thế nào là “người thứ ba được hưởng”. Điều này dẫn đến những cách hiểu không rõ ràng là bên thứ ba được hưởng có thể là bất kỳ cá nhân nào hay phải là bên được chỉ định cụ thể trong hợp đồng.

Ngoài ra, Bộ Luật Dân Sự 2015 cũng đã quy định về trường hợp “pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng.” Theo đó, trong trường hợp các bên không có thỏa thuận về pháp luật áp dụng thì pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với với hợp đồng sẽ được áp dụng.

BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015 - PHẠM VI ÁP DỤNG KHÔNG RÕ RÀNG

Bộ Luật Dân Sự 2015 (BLDS 2015)  có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2017, có khả năng làm thay đổi đáng kể khung pháp lý của Việt Nam. BLDS 2015 áp dụng cho quan hệ giữa cá nhân và/hoặc pháp nhân được hình thành trên cơ sở (1) bình đẳng, (2) tự do ý chí, (3) độc lập về tài sản và (4) tự chịu trách nhiệm (quan hệ dân sự). Đây là thay đổi đáng kể về phạm vi điều chỉnh của BLDS 2015 so với BLDS 2005 (phạm vi điều chỉnh của BLDS 2005 bao gồm các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động). Có một số vấn đề phát sinh từ sự thay đổi trên:

·         Định nghĩa mới về quan hệ dân sự đòi hỏi một quan hệ dân sự phải đáp ứng cả bốn yếu tố trên. Nếu một quan hệ dân sự thiếu đi bất kỳ yếu tố nào trong bốn yếu tố thì có khả năng quan hệ đó sẽ không thuộc phạm vi điều chỉnh của BLDS 2015. Có vẻ như định nghĩa mới không được hợp lý vì BLDS 2015 chứa đựng nhiều điều khoản về các giao dịch dân sự không đầy đủ bốn yếu tố trên (ví dụ giao dịch vô hiệu do bị lừa dối hoặc cưỡng ép); và

·         Không rõ liệu Bộ Luật Dân Sự 2015 sẽ tiếp tục áp dụng cho các quan hệ hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động giống như Bộ Luật Dân Sự 2005 nữa hay không.

Vấn đề trên được đặt ra bởi Tiến sĩ Đỗ Văn Đại trong cuốn sách bình luận khoa học những điểm mới của Bộ Luật Dân Sự 2015. 

VIỆT NAM GIA NHẬP CÔNG ƯỚC LIÊN HỢP QUỐC VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ (CISG)

Tháng 12/2015, Việt Nam đã chính thức phê duyệt và trở thành thành viên thứ 84 của Công ước Viên của Liên Hợp Quốc về Hợp đồng Mua bán Hàng hóa Quốc tế. Công ước Viên bắt đầu có hiệu lực ràng buộc tại Việt Nam từ ngày 1/1/2017. Việt Nam bảo lưu các điều khoản về hình thức của hợp đồng thuộc Điều 11, Điều 29 và Phần II của CISG. Bởi Việt Nam là một nước có các hoạt động kinh doanh sôi động, từ khía cạnh pháp lý, CISG sẽ có tác động lớn đến tất cả các hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế giữa Việt Nam và các quốc gia khác cũng là thành viên của CISG (ví dụ như Nhật Bản, Trung Quốc và Hoa Kỳ).

Về việc áp dụng CISG, trong mối tương quan với luật Thương mại 2005, trong trường hợp các quy định của CISG không phù hợp với các quy định của luật Thương mại 2005, các quy địnhcủa CISG sẽ được ưu tiên áp dụng. Do đó, nếu một hợp đồng mua bán hàng hóa có sự tham gia của một bên Việt Nam và các bên của hợp đồng không thỏa thuận loại trừ CISG một cách rõ ràng thì CISG sẽ được áp dụng. Một điểm quan trọng mà các luật sư hành nghề ở Việt Nam hiện tại cần phải cân nhắc đó là nên loại trừ hay áp dụng các điều khoản của CISG trong các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Ngoài ra, trong trường hợp lựa chọn áp dụng CISG, các bên của hợp đồng cũng nên suy xét về việc lựa chọn bản dịch CISG phù hợp vì CISG có nhiều bản dịch chính thức khác nhau.

 

 

 

 

HẠN CHẾ VỀ NGUYÊN TẮC NGƯỜI MUA PHẢI CẨN TRỌNG (CAVEAT EMPTOR) THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM 2015

Theo Black’s Law Dictionary (tái bản lần thứ 6, trang 152), “Caveat emptor” có nghĩa là “Người mua hàng hãy cẩn trọng” (“Let the buyer aware”). Nói cách khác, người mua hàng phải xem xét, đánh giá, kiểm tra hàng hóa vì lợi ích của mình và phải chịu trách nhiệm về hàng hóa đã nhận và không thể truy đòi người bán nếu sản phẩm bị lỗi hay hư hỏng.

Bộ Luật Dân Sự 2015 về căn bản đã hạn chế nguyên tắc Caveat Emptor ở Việt Nam. Bộ Luật Dân Sự 2015 quy định rằng một bên trước khi giao kết hợp đồng có nghĩa vụ cung cấp thông tin cho bên kia trong trường hợp thông tin đó ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng của bên kia. Bên vi phạm quy định trên mà gây thiệt hại sẽ phải bồi thường thiệt hại cho bên còn lại. Mặt khác, nguyên tắc Caveat Emptor thông thường không yêu cầu bên bán phải cung cấp thông tin về hàng hóa của bên bán cho bên mua trừ khi bên mua yêu cầu cung cấp thông tin đó một cách rõ ràng (ví dụ bằng cách yêu cầu cam đoan trong hợp đồng).

Trước Bộ Luật Dân Sự 2015, Luật Thương Mại 2005 cũng quy định bên bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa phải chịu trách nhiệm về những khiếm khuyết của hàng hóa mà bên mua đã kiểm tra nếu các khiếm khuyết này không thể được phát hiện bằng biện pháp thông thường và bên bán đã biết hoặc phải biết về các khiếm khuyết đó nhưng không thông báo cho bên mua. Hàng hóa, theo Luật Thương Mại 2005, có thể bao gồm nhiều loại tài sản như bất động sản và cổ phiếu, hoặc các loại chứng khoán khác. 

HỢP ĐỒNG TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM (CONSUMER CONTRACTS)

“Người tiêu dùng” được định nghĩa là “người mua hoặc sử dụng hàng hóa và dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức”. Thuật ngữ “người” ở đây được hiểu là cá nhân hoặc tổ chức. Dó đó một tổ chức, theo pháp luật Việt Nam, cũng được coi là người tiêu dùng. Sự khác biệt duy nhất đó là người tiêu dùng sử dụng hàng hóa cho mục đích tiêu dùng. Trong khi đó, đối với một chủ thể kinh doanh, việc mua hàng hóa đầu vào trong quá trình hoạt động để cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho khách hàng được coi là có “mục đích tiêu dùng” hoặc “mục đích kinh doanh”.

Nếu một hợp đồng được giao kết giữa hai chủ thể kinh doanh được xem như hợp đồng tiêu dùng thì những điều khoản sau đây (nếu được quy định trong hợp đồng) sẽ không có hiệu lực:

·         Điều khoản loại trừ trách nhiệm của thương nhân;

·        Điều khoản hạn chế,  hoặc loại trừ quyền khiếu nại, khởi kiện của người tiêu dùng;

·        Điều khoản cho phép thương nhân đơn phương thay đổi điều kiện hợp đồng đã thỏa thuận trước vớingười tiêu dùng; hoặc quy tắc, quy định bán hàng, cung ứng dịch vụ áp dụng đối với người tiêu dùng khi mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ không được thể hiện cụ thể trong hợp đồng;

·         Điều khoản cho phép thương nhận đơn phương xác định người tiêu dùng không thực hiện một hoặc một số nghĩa vụ;

·         Điều khoản cho phép thương nhân quy định hoặc thay đổi giá tại thời điểm giao hàng hóa, cung ứng dịch vụ;

·        Điều khoản cho phép thương nhân giải thích hợp đồng trong trường hợp điều khoản của hợp đồng được hiểu khác nhau;

·        Điều khoản băt buộc người tiêu dùng phải tuân thủ các nghĩa vụ ngay cả khi tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không hoàn thành nghĩa vụ của mình; và

·       Điều khoản cho phép thương nhân chuyển giao quyền và nghĩa vụ cho bên thứ ba mà không có sự chấp thuận của người tiêu dùng.

 Nhiều điều khoản được sử dụng phổ biến trong hợp đồng kinh doanh nhưng lại bị cấm sử dụng trong hợp đồng giao kết với người tiêu dùng. Bởi vậy, việc xác định loại hợp đồng được ký kết giữa các chủ thể kinh doanh là hợp đồng kinh doanh hay hợp đồng tiêu dùng là rất cần thiết.