NGHĨA VỤ BẢO MẬT CỦA LUẬT SƯ TẠI VIỆT NAM

Luật sư tại Việt Nam phải tuân thủ nghĩa vụ bảo mật sau đây với khách hàng của mình, bao gồm:

·         Luật sư  tiết lộ thông tin về vụ, việc, và khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý hoặc pháp luật có quy định khác (ví dụ, Bộ Luật Hình Sự 2015). Do nguyên tắc này quy định thêm việc “pháp luật có quy định khác”, luật sư không thể viện dẫn nguyên tắc này để từ chối yêu cầu cung cấp thông tin hoặc làm chứng chống lại khách hàng của mình trong một vụ án hình sự;

·         Luật sư không được sử dụng các thông tin về vụ, việc, và khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

·         Tổ chức hành nghề luật sư có trách nhiệm bảo đảm các luật sư và nhân viên trong tổ chức đó không tiết lộ thông tin về vụ, việc, và khách hàng của tổ chức đó; và

TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA LUẬT SƯ ĐỐI VỚI VIỆC KHÔNG TỐ GIÁC CÁC TỘI PHẠM ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI CÔNG TY TẠI VIỆT NAM

Theo Điều 19.3 của Bộ Luật Hình Sự 2015 của Việt Nam, nếu một người bào chữa, trong quá trình bảo vệ cho bị cáo, biết rõ tội phạm đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện hoặc đang được chuẩn bị thực hiện bởi bị cáo đó, người bào chữa sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với việc không tố giác tội phạm đó với cơ quan có thẩm quyền trừ trường hợp tội phạm đó là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội phạm liên quan đến an ninh quốc gia. Đây dường như là một phiên bản cấp thấp của Đặc Quyền Luật Sư và Thân Chủ (Attorney-Client Privilege) trong một số hệ thống pháp luật khác. Bộ Luật Hình Sự 1999 trước đây không quy định rõ ràng việc miễn trừ trách nhiệm nhiệm hình sự của người bào chữa đối với việc không tố giác tội phạm. Quyền được miễn trừ của người bào chữa theo Điều 19.3 được đưa ra lần đầu trong Bộ Luật Hình Sự 2015. Khi áp dụng Điều 19.3 trong trường hợp liên quan tới trách nhiệm hình sự của công ty, những điểm sau nên được lưu ý:

HƯỚNG DẪN MỚI VỀ THỦ TỤC RÚT GỌN TRONG GIẢI QYẾT TRANH CHẤP VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI VIỆT NAM

Ngày 15 tháng 5 năm 2018, Tòa án nhân dân Tối cao đã ban hành Nghị Quyết 3 về thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp phát sinh từ việc xử lý các khoản nợ xấu và tài sản bảo đảm của các khoản nợ xấu (Nghị Quyết 3). Nghị Quyết 3 là văn bản thi hành Nghị Quyết 42 của Quốc Hội về nợ xấu (Nghị Quyết 42). Nghị Quyết 3 có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 7 năm 2018 và sẽ hết hiệu lực khi Nghị Quyết 42 hết hiệu lực vào tháng 8 năm 2022. Nghị Quyết 3 sẽ áp dụng với các yêu cầu (1) được tòa án thụ lý giải quyết trước ngày 1 tháng 7 năm 2018 nhưng chưa được đưa ra xét xử; và (2) đã được thụ lý trong thời gian Nghị Quyết 3 có hiệu lực thi hành nhưng vẫn đang giải quyết khi Nghị quyết này hết hiệu lực. Nghị Quyết 3 không được áp dụng để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.

Nghị Quyết 42 cho phép các tranh chấp liên quan tới tài sản bảo đảm của nợ xấu được giải quyết theo thủ tục rút gọn. Nghị Quyết 3 quy định chi tiết thêm rằng:

CHUYỂN NHƯỢNG CAM KẾT KHOẢN VAY GIỮA CÁC NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM

Quy định về ngân hàng của Việt Nam không có cơ chế rõ ràng về việc chuyển nhượng cam kết khoản vay giữa các ngân hàng và tổ chức tín dụng tại Việt Nam. Cụ thể là,

·         Theo Thông Tư 9/2015 của Ngân Hàng Nhà Nước (NHNN) về mua, bán nợ, mua, bán nợ được định nghĩa là việc chuyển giao “quyền đòi nợ” phát sinh từ nghiệp vụ cho vay của ngân hàng (NH Gốc) cho bên mua nợ có thể là ngân hàng hoặc không phải là ngân hàng. Định nghĩa về nợ theo Thông Tư 09/2016 không bao gồm cam kết khoản vay khi một ngân hàng chỉ cam kết cho bên vay vay tiền nhưng chưa thực tế chưa giải ngân khoản vay. Vì vậy, mọi cơ chế mua bán nợ theo quy định của Thông Tư 9/2015 không được áp dụng trực tiếp cho việc chuyển nhượng cam kết khoản vay.

TIẾP NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT BẰNG HỢP ĐỒNG HỢP TÁC KINH DOANH TẠI VIỆT NAM

Tại Việt Nam, nếu một nhà đầu tư bất động sản (Nhà Đầu Tư) không thể Có Được Một Diện Tích Đất Thông Qua Các Phương Án Phổ Biến để thực hiện dự án đầu tư của mình, Nhà Đầu Tư có thể cân nhắc việc ký kết hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) với một người sử dụng đất trong nước. Theo cấu trúc của hợp đồng BCC, các bên không thành lập pháp nhân nhưng hợp tác với nhau sử dụng các nguồn lực sẵn có của mình (bao gồm cả quyền sử dụng đất) để thực hiện việc kinh doanh. Trong trường hợp này, bên có quyền sử dụng đất (Người Sử Dụng Đất) vẫn bảo lưu quyền đối với đất mà không chuyển nhượng cho Nhà Đầu Tư, tuy nhiên Nhà Đầu Tư có thể được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với tài sản gắn liền với đất (gọi chung là GCN quyền sở hữu). Có rủi ro là hợp đồng BCC có thể được xem hợp đồng cho thuê lại đất giữa người sử dụng đất và Nhà Đầu Tư. Tuy nhiên, cấu trúc hợp đồng BCC khá phổ biến trong thực tế và có cơ sở pháp lý nhất định cho cơ cấu này.

Các bước cơ bản để “có được” quyền sử dụng đất thông qua hợp đồng BCC như sau:

TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA CÔNG TY TRONG TRƯỜNG HỢP MỘT GIAO DỊCH MUA BÁN SÁP NHẬP TẠI VIỆT NAM

Bộ luật hình sự 2015 (BLHS 2015) không quy định về việc liệu trách nhiệm hình sự công ty thực hiện bởi một pháp nhân thương mại sẽ được kế thừa hoặc hủy bỏ nếu pháp nhân đó giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, và ngừng hoạt động. Theo Bộ Luật Dân Sự 2015, khi một pháp nhân bị sáp nhập, hợp nhất hoặc chia thì chỉ có nghĩa vụ dân sự của pháp nhân đó được chuyển cho pháp nhân mới (hoặc kế thừa) liên quan. Như vậy, trách nhiệm hình sự của pháp nhân đó có thể không được cho pháp nhân mới (hoặc kế thừa). Tương tự, theo Luật Doanh Nghiệp 2014, khi một doanh nghiệp bị sáp nhập, hợp nhất hoặc bị chia, chỉ có các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản được chuyển cho doanh nghiệp mới (hoặc kế thừa). Không rõ là liệu trách nhiệm hình của doanh nghiệp đầu tiên có thể đủ điều kiện để được coi là nghĩa vụ tài sản có thể được chuyển hoặc kế thừa bởi doanh nghiệp mới (hoặc kế thừa) hay không.

Theo quy định của Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự 2015, nếu một pháp nhân đã bị kết án về một tội phạm, thực hiện việc sáp nhập, chia tách, hợp nhất thì pháp nhân tiếp nhận các quyền và nghĩa vụ của pháp nhân đề cập ban đầu sẽ phải chịu trách nhiệm chấp hành các hình phạt bằng tiền. Quy định này dường như chỉ ra rằng không phải mọi trách nhiệm hình sự sẽ được sẽ được chuyển cho pháp nhân kế thừa. Mặc dù vậy, trong một Hội Thảo về trách nhiệm hình sự công ty, một cán bộ của Bộ Tư Pháp, là thành viên ban soạn thảo BLHS 2015 đã chỉ ra rằng cán bộ này ủng hộ quan điểm yêu cầu rằng trong trường hợp pháp nhân giải thể, sáp nhập, hợp nhất, hoặc bị chia, pháp nhân mới (hoặc kế thừa) phải thừa kế trách nhiệm hình sự của pháp nhân bị giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia.

NGHỊ ĐỊNH MỚI (NGHỊ ĐỊNH 81/2018) VỀ XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM

Vào ngày 22 tháng 5 năm 2018, Chính Phủ đã ban hành Nghị Định 81/2018 về hoạt động xúc tiến thương mại. Nghị Định 81/2018 sẽ có hiệu lực từ ngày 15 tháng 7 năm 2018 và thay thế Nghị Định 37/2006. Nghị Định 81/2018 đưa ra nhiều quy định mới liên quan tới hoạt động xúc tiến. Cụ thể là,

·         Thương nhân không được xúc tiến hàng hóa của mình bằng cách so sánh trực tiếp với sản phẩm của thương nhân khác vì bất kỳ mục đích gì. Trước đó, việc xúc tiến bằng cách so sánh giữa các sản phẩm chỉ bị cấm nếu việc xúc tiến là nhằm mục đích cạnh tranh không lành mạnh. Tuy nhiên, quy định này đã bị bãi bỏ theo Nghị Định 81/2018 do đó hạn chế về xúc tiến thông qua so sánh đã trở nên chặt chẽ hơn;

·         Hạn mức tối đa mới đối với các hoạt động xúc tiến thương mại liên quan đến chương trình khuyến mại tập trung. Trong trường hợp khuyến mại tập trung, giá trị tối đa của hàng hóa và dịch vụ được sử dụng cho việc xúc tiến và tỷ lệ giảm giá tối đa cho các hàng hóa và dịch vụ được xúc tiến có thể lên tới 100% giá trị của các hàng hóa và dịch vụ đó. Trước đây, mức giá trị tối đa của hàng hóa và dịch vụ được sử dụng cho việc xúc tiến và mức giảm giá tối đa trong mọi trường hợp chỉ có thể lên tới 50%;

VAI TRÒ CỦA CHƯƠNG TRÌNH TUÂN THỦ NỘI BỘ TRONG TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA CÔNG TY TẠI VIỆT NAM

Liên quan tới trách nhiệm hình sự của công ty, pháp luật Việt Nam không có quy định cụ thể về vai trò của chương trình tuân thủ nội bộ (corporate compliance program). Điều này có nghĩa là một chương trình tuân thủ nội bộ đang triển khai không thể được sử dụng trực tiếp để ngăn ngừa trách nhiệm hình sự của công ty. Điều này khác với Các Hệ Thông Pháp Luật Khác. Mặc dù vậy, một chương trình tuân thủ nội bộ có thể hữu ích theo quy định của BLHS 2015 vì các lý do sau đây:

·         Một công ty có thể tham chiếu đến việc triển khai chương trình tuân thủ nội bộ như là bằng chứng chứng minh rằng công ty không chỉ dẫn, hướng dẫn hay chấp nhận một hành vi tội phạm thực hiện bởi các cá nhân liên quan trong công ty; và

·         Chương trình tuân thủ có thể được xem như là tình tiết giảm nhẹ theo quy định của BLHS 2015 (một phương thức để ngăn chặn và giảm thiểu thiệt hại gây ra bởi hành vi phạm tội).

TRỞ NGẠI CHO VIỆC THÂU TÓM THÙ ĐỊCH TẠI VIỆT NAM

Xét đến sự thiếu rõ ràng của các Quy Định Về Chào Mua Công Khai và sự khó khăn trong việc thực thi các quy tắc đó trong thực tiễn, không quá khó khăn đối với nhà đầu tư trong việc tích lũy đáng kể cổ phần của một công ty cổ phần đại chúng (công ty mục tiêu) tại Việt Nam. Tuy nhiên, nếu nhà đầu tư này không được hậu thuẫn bởi Hội Đồng Quản Trị của công ty mục tiêu, thì nhà đầu tư không được hoan nghênh này có thể gặp khó khăn khi tham gia quản lý công ty mục tiêu ngay cả khi nhà đầu tư có thể nắm quyền kiểm soát của công ty mục tiêu ở cấp cổ đông. Điều này là bởi:

ÁP DỤNG SỞ HỮU GIÁN TIẾP TRONG VIỆC XÁC ĐỊNH GIỚI HẠN SỞ HỮU TRONG NGÂN HÀNG CỔ PHẦN VIỆT NAM

Một cổ đông (đặc biệt là một cổ đông nước ngoài) tại một ngân hàng cổ phần Việt Nam (Ngân Hàng VN) phải biết tỷ lệ nắm giữ của họ trong Ngân Hàng VN là bao nhiêu. Điều này là bởi (1) Có các mức sở hữu tối đa áp dụng cho một cổ đông đơn lẻ hoặc một nhóm người liên quan, và (2) một “Cổ Đông Lớn” cần có chấp thuận từ Ngân hàng nhà nước (NHNN). Việc Luật các tổ chức tín dụng 2010 (LCTCTD 2010) và Nghị Định 01/2014 đưa ra khái niệm về “sở hữu gián tiếp” đã dẫn tới khó có thể xác định chính xác tỷ lệ sở hữu cổ phần của một cổ đông trong một Ngân Hàng VN cho mục đích tại (1) và (2) nêu trên. Sở hữu gián tiếp được định nghĩa là việc một tổ chức, cá nhân sở hữu vốn điều lệ, vốn cổ phần của tổ chức tín dụng thông qua người có liên quan hoặc thông qua ủy thác đầu tư.

CÁC YÊU CẦU NGHIÊM NGẶT HƠN VỀ HOẠT ĐỘNG BÁN HÀNG ĐA CẤP

Vào tháng 3 năm 2018, Chính phủ đã ban hành một Nghị Định mới (Nghị Định 40/2018) về hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp (BHĐC). Nghị Định 40/2018 có hiệu lực từ ngày 2 tháng 5 năm 2018 thay thế cho cho Nghị Định 42/2014. Nhìn chung, Nghị nghị 40 kế thừa nhiều quy định của Nghị Định 42/2014 và thông tư hướng dẫn của Nghị Định này (Thông tư 24/2014). Mặc dù vậy, Nghị Định 40/2018 quy định nhiều yêu cầu mới và chặt chẽ hơn về hoạt động BHĐC. Cụ thể là,

KHÔNG CÓ KHÁI NIỆM VỀ PHỐI HỢP HÀNH ĐỘNG TRONG PHÁP LUẬT CHỨNG KHOÁN CỦA VIỆT NAM

Tại các hệ thống pháp luật khác, Phối Hợp Hành Động (Acting In Concert) về cơ bản được hiểu là sự hợp tác có chủ đích giữa hai hay nhiều bên để thực hiện việc kiểm soát một công ty niêm yết. Và quyền biểu quyết của những người được xem là phối hợp hành động sẽ có được cộng lại để tính xem liệu có cần thực hiện thủ tục công bố và/hoặc chào mua công khai bắt buộc hay không. Quy định về chứng khoán của Việt Nam không dự trù và quy định một cách rõ ràng khái niệm “phối hợp hành động”. Bởi vậy, ở Việt Nam việc những người không phải người liên quan theo luật có thể kết hợp phiếu biểu quyết của mình để kiểm soát (hoặc tác động tới việc kiểm soát) một công ty đại chúng mà không phải công bố hoặc thực hiện chào mua công khai là khá phố biến. Thực tế này có thể gây ra thiệt hại cho các nhà đầu tư đại chúng, những người không nắm được các thay đổi tiềm ẩn về quyền kiểm soát công ty đại chúng.

TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA CÔNG TY TẠI VIỆT NAM

Bộ Luật Hình Sự 2015 có hiệu lực từ 1 tháng 1 năm 2018 lần đầu tiên đưa ra trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân tại Việt Nam. Trước khi có Bộ Luật Hình Sự 2015, chỉ có các cá nhân mới phải chịu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam. Đây là một thay đổi lớn đối với hệ thống luật hình sự Việt Nam. Tài liệu kèm theo đây tóm tắt các phân tích của chúng tôi về trách nhiệm hình sự của công ty tại Việt Nam trong Tập 2 của sách Những nguyên tắc của Luật Doanh Nghiệp Việt Nam.

Bấm vào Đây để tải về.

CÓ PHẢI ĐÓNG BẢO HIỂM XÃ HỘI TRONG THỜI GIAN THỬ VIỆC THEO HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM

Theo Luật Bảo Hiểm Xã Hội 2014, kể từ 1 tháng 1 năm 2018, bất kỳ người lao động làm việc theo hợp đồng lao động từ đủ một tháng đến dưới ba tháng phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc (Yêu Cầu BHXH). Tiền bảo hiểm xã hội được đóng bởi cả người lao động và người sử dụng lao động theo tỷ lệ nhất định, trong đó người sử dụng lao động thường đóng phần nhiều hơn. Tuy nhiên, không rõ là liệu một người lao động làm việc theo hợp đồng thử việc với thời hạn từ đủ 1 tháng tới 2 tháng (Hợp Đồng Thử Việc) có phải tuân thủ Yêu Cầu BHXH. Có nhiều quan điểm khác nhau xoay quanh vấn đề này:

Một mặt, có quan điểm cho rằng không phải đóng bảo hiểm xã hội trong thời gian thử việc bởi vì:

NHẬN DIỆN CỔ ĐÔNG LỚN TRONG MỘT NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

Theo quy định của Luật Các Tổ Chức Tín Dụng 2010,

·         Cổ đông lớn của một ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam (Ngân Hàng VN) là cổ đông sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp ít nhất 5% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết của Ngân Hàng VN. Sở hữu gián tiếp được định nghĩa là một tổ chức hoặc các nhân sở hữu vốn điều lệ hoặc vốn cổ phần của một tổ chức tín dụng thông qua một người liên quan hoặc quỹ đầu tư; và

·         Yêu cầu phải có chấp thuận của NHNN đối với “việc chuyển nhượng cổ phần bởi cổ đông lớn” hoặc “chuyển nhượng cổ phần dẫn tới một cổ đông lớn trở thành cổ đông nhỏ và ngược lại.”

TẦM QUAN TRỌNG CỦA TỶ LỆ SỞ HỮU CỔ PHẦN CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

Việc xác định tỷ lệ sở hữu cổ phần của một nhà đầu tư nước ngoài trong ngân hàng thương mại Việt Nam (Ngân Hàng VN) là rất quan trọng, bởi vì:

·         Có sự khác biệt về giới hạn sở hữu nước ngoài áp dụng đối với từng loại nhà đầu tư nước ngoài trong một Ngân Hàng VN (xem tại Đây);

·         Tồn tại các yêu cầu khác nhau áp dụng đối với nhà đầu tư nước ngoài trong một Ngân Hàng VN phụ thuộc vào tỷ lệ sở hữu cổ phần của nhà đầu tư đó. Ví dụ, một nhà đầu tư nước ngoài sở hữu từ 10% cổ phần trở lên phải (bao gồm nhưng không giới hạn) có xếp loại tính dụng quốc tế và phải có tổng tài sản từ 10 tỷ đô la Mỹ trở lên (đối với các nhà đầu tư là tổ chức tài chính) hoặc vốn điều lệ từ 1 tỷ đô la Mỹ trở lên (đối với các nhà đầu tư không phải là tổ chức tài chính);

GIỚI HẠN VAY NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM

Theo quy định của Luật Các Tổ Chức Tín Dụng 2010 (như được sửa đổi gần đây), ngân hàng phải chịu một số hạn chế khi cấp khoản vay hoặc các hình thức tín dụng khác cho bên vay, bao gồm:

(a) Tổng mức dư nợ cấp tín dụng cho (1) một khách hàng và (2) một khách hàng và người có liên quan không được vượt quá lần lượt là 15% và 25% vốn chủ sở hữu của ngân hàng. Dư nợ tín dụng bao gồm (nhưng không giới hạn): (1) trái phiếu được phát hành bởi khách hàng hoặc người liên quan của họ, (2) khoản vay có bảo đảm được bảo lãnh bởi các tổ chức tín dụng khác, và (2) khoản vay có bảo đảm bởi tiền gửi tiết kiệm cá nhân. Dư nợ tín dụng không bao gồm (1) tín dụng cấp cho bên vay là một tổ chức tín dụng khác và (2) tín dụng cấp bởi nguồn vốn ủy thác của Chính Phủ hoặc các tổ chức, cá nhân khác. Thủ Tướng Chính Phủ có thể quyết định bãi bỏ giới hạn này phụ thuộc vào giới hạn 400% vốn chủ sở hữu của ngân hàng;

QUY ĐỊNH MỚI VỀ SỬA ĐỔI BỔ SUNG LUẬT CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG 2010 TẠI VIỆT NAM

Tháng 11 năm 2017, Quốc Họi đã thông qua nhiều sửa đổi bổ sung đối với Luật Các Tổ Chức Tín Dụng 2010 (Luật TCTD Sửa Đổi). Khoảng hai phần ba Luật TCTD Sửa Đổi tập trung vào quy định về tái cơ cấu, giải cứu, và giải thể tổ chức tín dụng. Điều này có thể lý giải khoảng thời gian tương đối ngắn giữa ngày ban hành và ngày có hiệu lực của Luật TCTD Sửa Đổi. Luật TCTD Sửa Đổi có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 1 năm 2018, chưa đầy hai tháng kể từ thời điểm ban hành. Quốc hội thường để một luật có hiệu lực sau khoảng thời gian từ sáu tháng tới một năm. Điều này có vẻ như cho thấy nhận thức về sự cấp thiết của Ngân Hàng Nhà Nước (NHNN) trong việc xử lý nhiều ngân hàng đã được NHNN giải cứu trong một số năm gần đây.

Bên cạnh các quy định về tái cơ cấu, giải cứu và giải thế tổ chức tín dụng, Luật TCTD Sửa Đổi đưa ra một loạt quy định khác nhằm cải thiện việc quản trị và vận hành của tổ chức tín dụng. Các sửa đổi, bổ sung này bao gồm:

NGHỊ ĐỊNH 9/2018 VỀ MUA BÁN HÀNG HÓA VÀ “CÁC HOẠT ĐỘNG LIÊN QUAN” CỦA DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI (FIE) TẠI VIỆT NAM

Ngày 15 tháng 1 năm 2018, Chính Phủ đã ban hành Nghị Định 9/2018 về mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp khác của các FIE. Nghị Định 9/2018 có hiệu lực ngay lập tức và thay thế Nghị Định 23/2007. Có một vài vấn đề pháp lý phát sinh từ Nghị Định 9/2018. Không may là hầu hết các vấn đề pháp lý này sẽ có thể làm cho việc hoạt động và đầu tư của các FIE trong các ngành nghề được quy định bởi Nghị Định 9/2018 trở lên khó khăn (đôi khi khó khăn hơn nhiều). Cụ thể là,

CÁC ĐIỀU KIỆN MỚI ĐỚI VỚI THƯƠNG NHÂN NHẬP KHẨU, NHẬP KHẨU XĂNG DẦU TẠI VIỆT NAM

Kể từ ngày 15 tháng 1 năm 2018, Nghị Định 8/2018 đã đơn giản hóa các điều kiện để xin cấp giấy phép nhập khẩu xăng dầu cho các nhà phân phối trong nước theo quy định của Nghị Định 83/2014 như sau: