LÀM THẾ NÀO ĐỂ NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI CÓ ĐƯỢC QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TẠI VIỆT NAM

Ở Việt Nam, tư hữu về đất đai không được thừa nhận theo quy định của Hiến Pháp và Luật Đất Đai 2013. Thay vào đó, một chủ thể có thể có được các quyền nhất định gần với các quyền sở hữu về đất đai (quyền sử dụng đất) theo quy định của pháp luật đất đai. Nhà đầu tư nước ngoài không thuộc các chủ thể có quyền được cấp quyền sử dụng đất tại Việt Nam, nhưng một công ty trong nước (Công Ty Trong Nước) do nhà đầu tư nước ngoài đó sở hữu một phần hoặc toàn bộ có thể được cấp quyền sử dụng đất để thực hiện các dự án đầu tư của mình.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, một Công Ty Trong Nước có thể có được quyền sử dụng đất đối với một diện tích đất thông qua một trong các phương án sau:

GIAO DỊCH GIỮA SABECO VÀ THAIBEV – XÁC NHẬN “CHÍNH THỨC” VỀ CẤU TRÚC GIAO DỊCH CHUNG

Giao dịch giữa Sabeco và ThaiBev được CÔNG BỐ vào ngày thứ hai vừa qua (18/12/2017) đã chính thức trở thành giao dịch thâu tóm lớn nhất tại Việt Nam tính tới thời điểm hiện tại. Theo thông tin từ Báo Chí, cấu trúc giao dịch (xem ảnh minh họa dưới đây) có liên quan tới việc Vietnam Beverage thâu tóm 53.59% cổ phần tại Sabeco. Vietnam Beverage được sở hữu toàn bộ bởi CTCP Đầu tư F&B Alliance Việt Nam. Tiếp theo đó, Thai Bev sở hữu gián tiếp 49% vốn của CTCP Đầu tư F&B Alliance Việt Nam. Nhìn nhận về vấn đề này, dường như Thai Bev đang đầu tư vào Sabeco bằng cách thiết lập một nhà đầu tư “nội địa” thông qua nhiều lớp công ty khác nhau.

TỔNG QUAN VỀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM

Theo quy định của Bộ Luật Lao Động 2012, hợp đồng lao động là một thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về công việc có trả lương, điều kiện làm việc, các quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động. Một hợp đồng lao động giữa người sử dụng lao động và người lao động có thể thuộc một trong số các loại hợp đồng sau đây:

·         Hợp Đồng Mùa Vụ: một hợp đồng mùa vụ (hay hợp đồng đối với một công việc nhất định) là hợp đồng lao động với khoảng thời gian ít hơn 12 tháng;

·         Hợp Đồng Xác Định Thời Hạn: hợp đồng xác định thời hạn nghĩa là hợp đồng lao động với khoảng thoài gian từ đủ 12 tháng tới 36 tháng. Hợp đồng xác định thời hạn chỉ có thể được gia hạn một lần duy nhất. Sau đó, người sử dụng lao động phải tiến hành giao kết Hợp Đồng Không Xác Định Thời Hạn (xem dưới đây); và

QUY ĐỊNH MỚI VỀ NHÀ ĐẦU TƯ CHIẾN LƯỢC TRONG QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

Nghị định 126/2017 thay thế Nghị Định 59/2011 về cổ phần hóa Doanh nghiệp Nhà Nước đưa ra nhiều yêu cầu mới đối với nhà đầu tư chiến lược đầu tư vào Doanh nghiệp Nhà nước đang được cổ phần hóa (DNNN cổ phần hóa). Các yêu cầu mới (đặc biệt là yêu cầu về giá) gây ra nhiều khó khăn hơn cho nhà đầu tư chiến lược để có thể đáp ứng được. Cụ thể là,

·         DNNN cổ phần hóa phải quyết định lựa chọn nhà đầu tư chiến lược và nhà đầu tư chiến lược phải cam kết đầu tư trước thời điểm công bố thông tin bán cổ phần lần đầu ra công chúng. Theo quy định tại Nghị Định 59/2011, nhà đầu tư chiến lược có thể tùy ý quyết định việc đầu tư trước hoặc sau cuộc đấu giá công khai;

CÁC HOẠT ĐỘNG GIA CÔNG BỞI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI (DNNN) Ở VIỆT NAM

Không rõ là theo Luật Việt Nam liệu một DNNN có cần phải có Giấy phép kinh doanh để cung cấp dịch vụ gia công thương mại cho các công ty khác hay không. Theo quy định tại Nghị Định 23/2007 về hoạt động mua bán hàng hóa và hoạt động liên quan đến mua bán hàng hóa của DNNN, gia công thương mại được xem là một hoạt động liên quan tới mua bán hàng hóa. Vì vậy, về cơ bản, nếu một DNNN muốn tham gia vào lĩnh vực gia công thương mại, DNNN đó sẽ cần có Giấy phép kinh doanh.

QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ 2015 VỀ TỘI HỐI LỘ Ở VIỆT NAM

Điều 354 của Bộ Luật Hình Sự 2015 đặt ra trách nhiệm hình sự đối với hành vi nhận hối lộ, nhận hối lộ được định là hành vi, bao gồm nhưng không giới hạn, của một người nắm giữ chức vụ hoặc “quyền hạn” và trực tiếp hay gián tiếp nhận hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi ích nào sau đây cho chính bản thân người đó hoặc cho người hoặc tổ chức khác:

·         tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kỳ hình thức nào có giá trị từ 2 triệu VNĐ trở lên (khoảng 100 đô la Mỹ); và

·         lợi ích phi vật chất

với ý định lợi dụng vị trí hoặc quyền hạn của người đó để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ. Bộ Luật Hình Sự 1999 chỉ coi là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác là của hối lộ.

Mặc dù án lệ không được coi là luật ở Việt Nam và không dễ dàng để tiếp cận một cách công khai, có nhiều bình luận khác nhau về tội hối lộ đã chỉ ra cấu thành của tội nhận hối lộ gồm một số yếu tố sau đây:

NGHỊ ĐỊNH MỚI VỀ ĐĂNG KÝ THẾ CHẤP VÀ CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM KHÁC Ở VIỆT NAM

Ngày 15 tháng 10 năm 2017, Nghị định 102 của Chính Phủ ngày 1 tháng 9 năm 2017 về đăng ký giao dịch bảo đảm (Nghị Định 102/2017) chính thức có hiệu lực. Nghị Định 102 thay thế Nghị Định 83 của Chính Phủ ngày 23 tháng 7 năm 2010 (Nghị Định 83/2010) về cùng vấn đề. Nghị Định 102/2017 đưa ra một số điểm mới như sau:

·         Việc thế chấp đối với tài sản gắn liền với đất phải được đăng ký nếu tài sản đó đã được ghi nhận trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trước Nghị Định 102/2017. Việc đăng ký thế chấp đối với các tài sản gắn liền với đất không phải là bắt buộc.

·         Các thủ tục đăng ký bảo lưu quyền sở hữu (một biện pháp bảo đảm mới theo quy định của Bộ Luật Dân Sự 2015) được đưa ra;

CÓ THỂ ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG VÌ LÝ DO TÁI CƠ CẤU MÀ KHÔNG PHẢI THÔNG BÁO TRƯỚC KHÔNG?

Bộ Luật Lao Động 2012 (BLLĐ 2012) không yêu cầu cụ thể rằng người sử dụng lao động có ý định chấm dứt hợp đồng lao động trên cơ sở thay đổi cơ cấu, tổ chức, thay đổi công nghệ hoặc lý do kinh tế (Tái Cơ Cấu Công Ty) phải thông báo trước cho người lao động.

Yêu cầu về thông báo trước được quy định tại Điều 38.2 của BLLĐ 2012. Điều 38.2 theo sau Điều 38.1, trong đó chỉ quy định việc chấm hợp chấm dứt hợp đồng lao động dựa trên các căn cứ khác như: người lao động không thường xuyên hoàn thành công việc, ốm đau phải điều trị trong thời gian dài, hoặc các sự kiện bất khả kháng. Vì vậy, sẽ có quan điểm cho rằng Điều 38.2 chỉ áp dụng đối với các trường hợp được quy định tại Điều 38.1 của BLLĐ 2012 mà không áp dụng cho trường hợp Tái Cơ Cấu Công Ty.

Tuy nhiên, quan điểm trên có thể không hợp lý vì:

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ TRONG MỘT CÔNG TY CỔ PHẦN VIỆT NAM CÓ THỂ BỊ BÃI MIỄN BỞI TÒA ÁN KHÔNG?

Tòa án Việt Nam không có thẩm quyền rõ ràng trong việc bãi miễn một thành viên hội đồng quản trị (HĐQT) khỏi HĐQT của công ty cổ phần Việt Nam như ở các hệ thống tư pháp phát triển khác. Theo quy định tại Điều 156.1 của Luật Doanh Nghiệp 2014, một thành viên HĐQT có thể bị miễn nhiệm nếu thành viên đó:

·         không còn đủ tiêu chuẩn và điều kiện của một thành viên HĐQT bao gồm cả không có đầy đủ năng lực hành vi dân dự hoặc thuộc các đối tượng không được phép quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam;

·         không tham gia vào các hoạt động của HĐQT trong sáu tháng cộng dồn, trừ trường hợp bất khả kháng; và

·         có đơn từ chức.

CUỘC HỌP ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG THƯỜNG NIÊN VÀ BẤT THƯỜNG TẠI VIỆT NAM

Cuộc họp Đại đội đồng cổ đông của một công ty cổ phần (CTCP) phải được triệu tập ít nhất một năm một lần trong 4 tháng đầu tiên hoặc, 6 tháng sau khi kết thúc năm tài chính nếu được sự cho phép của Cơ Quan Đăng Ký Kinh Doanh và HĐQT. Cuộc họp này được gọi là cuộc họp thường niên và các cuộc hợp khác của Đại Hội Đồng Cổ Đông được gọi là cuộc họp bất thường. Luật Doanh Nghiệp 2014 không nói rõ việc nếu có nhiều hơn hai cuộc họp của Đại Hội Đồng Cổ Đông của CTCP trong 4 tháng đầu tiên sau khi kết thúc năm tài chính, thì liệu cuộc họp đầu tiên trong các cuộc họp này sẽ được xem là cuộc họp thường niên hay CTCP có thể linh hoạt trong việc quyết định cuộc họp nào là cuộc họp thường niên.

Trong cuộc họp thường niên, Đại Hội Đồng Cổ Đông sẽ xem xét và chấp thuận các vấn đề sau:

KHI NÀO MỘT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG ĐƯỢC TỰ ĐỘNG GIA HẠN Ở VIỆT NAM

Theo quy định tại Điều 22.2 của Bộ Luật Lao Động 2012, khi một hợp đồng lao động xác định thời hạn hoặc hợp đồng mùa vụ (Hợp Đồng Cũ) hết thời hạn, và người lao động tiếp tục làm việc, thì trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hết hạn của Hợp Đồng Cũ đó (Ngày Hết Hạn) các bên phải tiến hành giao kết hợp đồng mới; nếu hợp đồng lao động mới không được ký, thì Hợp Đồng Cũ sẽ lần lượt trở thành hợp đồng không xác định thời hạn hoặc hợp đồng xác định thời hạn với thời hạn 24 tháng (Hợp Đồng Mới). Quy định này được diễn giải theo nhiều cách khác nhau như sau:

ĐIỀU LỆ MẪU MỚI CHO CÁC CÔNG TY ĐẠI CHÚNG TẠI VIỆT NAM

Ngày 22 tháng 9 năm 2017,  Bộ Tài Chính đã ban hành điều lệ mẫu cho các công ty đại chúng theo quy định của Thông Tư 95/2017 hướng dẫn các quy định quản lý mới của Nghị Định 71/2017. Điều lệ mẫu (Điều Lệ Mẫu Mới) thay thế cho điều lệ mẫu cũ (Điều Lệ Mẫu Cũ) được quy định tại Thông Tư 121/2012, dựa trên quy định của Luật Doanh Nghiệp 2005 đã hết hiệu lực. Các điều lệ này không phải là mẫu áp dụng bắt buộc theo luật, do vậy nên chỉ dùng cho mục đích tham khảo.

Hầu hết các thay đổi trong Điều Lệ Mẫu Mới thể hiện các thay đổi trong Luật Doanh Nghiệp 2014 và Nghị Định 71/2017 (xem thêm tại Đây). Bên cạnh đó, Điều Lệ Mẫu Mới đưa ra nhiều thay đổi đáng chú ý như sau:

TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA DOANH NGHIỆP – DANH MỤC CÁC TỘI DANH

Theo quy định của BLHS 2015, chỉ có các pháp nhân thương mại phạm phải các tội danh được liệt kê tại Điều 76 của Bộ Luật mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Bảng dưới đây liệt kê các tội phạm và hình phạt chính có thể áp dụng đối với các pháp nhân này. Đáng chú ý, danh sách này lại không bao gồm tội danh hối lộ và gian lận kế toán, những hành vi thường diễn ra với các công ty tại Việt Nam. Danh sách được tập hợp bởi Hà Kiều Anh và Hà Thanh Phúc, các luật sư tập sự tại Venture North Law.

TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM – CÁC CHỦ THỂ PHẢI CHỊU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ

Theo quy định tại Bộ Luật Hình Sự 2015 (BLHS 2015), chỉ có “pháp nhân thương mại” có thể phải chịu trách nhiệm hình sự. pháp nhân thương mại là một pháp nhân với mục đích chính là tìm kiếm lợi nhuận để chia cho các thành viên của mình. Tuy nhiên, khái niệm về pháp nhân thương mại có thể làm phát sinh một số vấn đề sau đây:

·         Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự 2015 (BLTTHS 2015) chỉ đề cập chung chung tới “pháp nhân”. Không rõ là tại sao BLTTHS 2015 không sử dụng thuật ngữ pháp nhân thương mại cho dù được soạn thảo và thông qua cùng thời điểm với BLHS 2015.

LUẬT MỚI VỀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM

Luật mới về Chuyển Giao Công Nghệ sẽ có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2018. Luật Chuyển Giao Công Nghệ mới quy định lại yêu cầu về đăng ký đối với việc chuyển giao công nghệ xuyên biên giới, nội dung đã được bãi bỏ theo quy định của Luật Chuyển Giao Công Nghệ hiện hành năm 2006. Việc đăng ký là điều kiện để hợp đồng chuyển giao công nghệ có giá trị pháp lý. Tuy nhiên, luật mới không áp đặt bất kỳ hạn chế cụ thể nào về hợp đồng chuyển giao công nghệ như thời hạn tối đa của hợp đồng hay mức trần phí chuyển giao. Nếu không có các hạn chế này, không rõ là các cơ quan cấp phép sẽ dựa trên cơ sở nào để cho phép đăng ký hoặc từ chối đăng ký đối với hợp đồng chuyển giao công nghệ.

Bài viết được đóng góp một phần bởi Nguyễn Lan Chi, thực tập sinh tại Venture North Law.

DỰ THẢO NGHỊ ĐỊNH VỀ DỊCH VỤ LOGISTICS THAY THẾ NGHỊ ĐỊNH 140/2007 TẠI VIỆT NAM

Dự thảo Nghị định về dịch vụ logistics ở Việt Nam (Dự Thảo) gần đây đã được Bộ công thương (BCT) công bố. Bản Dự Thảo gần nhất sẽ thay thế Nghị Định 140/2007 về cùng một lĩnh vực. Những điểm đáng chú ý của bản Dự Thảo gồm:

·         Dự Thảo phân loại dịch vụ logistics phù hợp với các cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO. Nghị Định 140/2007 đưa ra phân loại riêng về dịch vụ logistics, không thống nhất với mô tả về dịch vụ logistics tại Biểu Cam Kết WTO. Vì vậy không dễ để so sánh Dự Thảo với Biểu Cam Kết WTO;

·         Dự Thảo không bao gồm một số dịch vụ logistics nhất định được quy định tại Nghị Định 140/2007 (xem bảng dưới). Do đó, không rõ là liệu các dịch vụ này có được cho phép hay không được cho phép theo quy định của bản Dự Thảo;

DANH MỤC HÀNG HÓA VÀ DỊCH VỤ NHÀ NƯỚC GIỮ ĐỘC QUYỀN TẠI VIỆT NAM

Nghị Định 94/2017 của Chính Phủ quy định danh mục hàng hóa và dịch vụ mà Nhà nước giữ độc quyền cung ứng. Hay nói cách khác, các doanh nghiệp từ các thành phần tư nhân bao gồm cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không được phép cung ứng các hàng hóa, dịch vụ này tại Việt Nam trừ trường hợp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ định việc cung ứng.

Theo Nghị Định 94/2017, Nhà nước sẽ chỉ coi các hàng hóa hoặc dịch vụ là hàng hóa và dịch vụ Nhà nước độc quyền khi không có các nhà đầu tư khác quan tâm hoặc không có đủ năng lực cung ứng các hàng hóa, dịch vụ đó. Danh mục hàng hóa và dịch vụ mà Nhà nước giữ độc quyền bao gồm, nhưng không giới hạn:

·         Hàng hóa và dịch vụ phục vụ mục đích quốc phòng và an ninh quốc gia. Bộ Quốc phòng và Bộ Công an sẽ quy định hướng dẫn cụ thể về các hàng hóa và dịch vụ này;

·         Vật liệu nổ công nghiệp;

·         Vàng miếng và vàng nguyên liệu;

·         Xổ số kiến thiết;

·         Thuốc lá điếu, xì gà nhập khẩu;

THỨ TỰ ƯU TIÊN THANH TOÁN GIỮA CÁC GIAO DỊCH BẢO ĐẢM KHÔNG PHÁT SINH HIÊU LỰC ĐỐI KHÁNG

Theo quy định tại Điều 308 của BLDS 2015, trường hợp các giao dịch bảo đảm liên quan tới cùng một tài sản không phát sinh hiệu lực đối kháng với một bên thứ ba (giao dịch bảo đảm không phát sinh hiệu lực đối kháng), thứ tự thanh toán sẽ được xác định theo thứ tự xác lập các giao dịch bảo đảm không phát sinh hiệu lực đối kháng. Điều 47a của Nghị Định 163/2006 cũng đưa ra quy định tương tự về thứ tự ưu tiên thanh toán giữa bên nhận bảo lãnh với các giao dịch không phát sinh hiệu lực đối kháng khác. Cụ thể, thứ tự ưu tiên thanh toán giữa bên nhận bảo lãnh với các giao dịch không phát sinh hiệu lực đối kháng khác cũng sẽ được xác định theo thứ tự mà các giao dịch đó được xác lập.

Có một số vấn đề pháp lý phát sinh từ các quy định này như sau:

·         Nếu một giao dịch bảo đảm không phát sinh hiệu lực đối khác với một bên thứ ba thì về mặt lô gich, giao dịch đó cũng sẽ không phát sinh hiệu lực đối kháng với các giao dịch khác. Tuy nhiên, Điều 308 của BLDS 2015 đã làm cho một giao dịch bảo đảm không phát sinh hiệu lực đối kháng trở nên đối kháng với các giao dịch bảo đảm không phát sinh hiệu lực đối kháng khác được giao kết sau giao dịch đó;

NĂNG LỰC PHÁP LUẬT CỦA CHI NHÁNH CÔNG TY TẠI VIỆT NAM THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015

Theo quy định của Bộ Luật Dân Sự 2015 (BLDS 2015), năng lực pháp luật của chi nhánh bị hạn chế. Cụ thể là, chi nhánh không thể nhân danh chính mình giao kết hợp đồng bởi vì nó không phải là pháp nhân hay thể nhân tự nhiên. Bên cạnh đó, trong khi không hoàn toàn rõ ràng (xem phía dưới), có quan điểm cho rằng chi nhánh không còn khả năng đại diện cho công ty mẹ của mình. Vì vậy, không rõ là liệu một hợp đồng ký bởi chi nhánh với tư cách là đại diện cho công ty mẹ có giá trị pháp lý theo quy định mới của BLDS 2015 hay không. Điều này là bởi theo quy định của BLDS 2015,

·         Chỉ có thể nhân tự nhiên và pháp nhân mới có thể tự nhân danh chính mình giao kết hợp đồng;

·         Chỉ có thể nhân tự nhiên hoặc pháp nhân có thể trở thành người đại diện cho một người khác (thể nhân tự nhiên hoặc pháp nhân); và

·         BLDS 2005 đã từng quy định rằng chức năng của chi nhánh bao gồm chức năng đại diện theo ủy quyền. Tuy nhiên, quy định này đã bị loại bỏ khỏi BLDS 2015.

NHỮNG YÊU CẦU BẮT BUỘC ĐỐI VỚI NGHỊ QUYẾT CỦA ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG TẠI VIỆT NAM

Trong công ty cổ phần (CTCP), có nhiều vấn đề quan trọng (như tăng số cổ phần được quyền chào bán, thay đổi ngày nghề kinh doanh hay các giao dịch giá trị lớn) thuộc thẩm quyền và được quyết định bởi Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ). ĐHĐCĐ đưa ra quyết định của mình bằng việc thông qua nghị quyết. Trong thực tiễn, một nghị quyết của ĐHĐCĐ được thông qua theo cách thức sau đây:

·         Cuộc họp của ĐHĐCĐ được tổ chức và khi kết thúc cuộc họp, một biên bản sẽ ghi chép lại nội dung (bao gồm nhưng không giới hạn) các quyết định được đưa ra trong cuộc họp. HĐQT có thể lựa chọn việc lấy ý kiến bằng văn bản từ các cổ đông và chuẩn bị biên bản kiểm phiếu; và

·         Trên cơ sở biên bản được chấp thuận, Chủ tịch HĐQT ký một văn bản gọi là “Nghị quyết của ĐHĐCĐ” trong đó bao gồm các quyết định cụ thể được ĐHĐCĐ chấp thuận tại cuộc họp ĐHĐCĐ hoặc bằng cách lấy ý kiến bằng văn bản từ các cổ đông. Văn bản này thường được cung cấp cho đối tác của công ty hoặc cơ quan cấp phép.