SỬA ĐỔI MỚI VỀ QUY ĐỊNH ĐĂNG KÝ KINH DOANH ĐỐI VỚI CÁC CÔNG TY TẠI VIỆT NAM

Nghị Định mới (Nghị Định 108/2018) được ban hành ngày 23 tháng 8 năm 2018 đưa ra nhiều sửa đổi đối với các quy định đăng ký kinh doanh hiện hành theo Nghị Định 78/2015. Nghị Định 108/2018 sẽ có hiệu lực kể từ ngày 10 tháng 11 năm 2018. Dưới đây là một số thay đổi đáng chú ý:

·         Nghị Định 108/2018 làm rõ nội dung không quy định trong Nghị Định 78/2018 về việc các tài liệu sau đây trong hồ sơ đăng ký không bắt buộc phải đóng dấu của công ty: giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp; thông báo thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp; và quyết định, nghị quyết và biên bản họp.

·         Giấy ủy quyền, cho phép một người đại diện cho một doanh nghiệp thực hiện thủ tục với cơ quan đăng ký kinh doanh không còn cần phải được công chứng hoặc chứng thực.

·         Nghị Định 108/2018 bãi bỏ yêu cầu một doanh nghiệp chỉ có thể lập một “điểm kinh doanh” ở tỉnh, thành phố nơi doanh nghiệp có trụ sở chính hoặc chi nhánh. Điều này có nghĩa là doanh nghiệp có thể có điểm kinh doanh tại tỉnh, thành phố mà doanh nghiệp không có chi nhánh hoặc trụ sở chính tại đó.

·         Trường hợp đăng ký giảm vốn điều lệ, doanh nghiệp không còn bị yêu cầu phải nộp báo cáo tài chính mới nhất.

·         Liên quan tới các thay đổi về thông tin của cổ đông sáng lập, theo Nghị Định 108/2018, công ty cổ phần chỉ phải thông báo những thay đổi đó trong trường hợp cổ đông sáng lập không thanh toán đầy đủ số cổ phần đã đăng ký mua khi công ty được thành lập. Theo Nghị Định 78/2015, một công ty cổ phần cũng phải thông báo những thay đổi đó khi cổ đông sáng lập chuyển nhượng cổ phần của mình.

Bài viết được đóng góp bởi Hà Thành Phúc, luật sư tập sự tại Venture North Law.

QUY ĐỊNH MỚI VỀ KHU CÔNG NGHIỆP TẠI VIỆT NAM

Ngày 22 tháng 5 năm 2018, Chính Phủ đã ban hành Nghị Định 82/2018 về khu công nghiệp và khu kinh tế tại Việt Nam. Nghị Định 82/2018 thay thế Nghị Định 29/2008 kể từ ngày 10 tháng 7 năm 2018. Các điểm nổi bật của Nghị Định 82/2018 như sau:

·         Khu kinh tế nằm trong khu vực được hưởng chính sách ưu đãi đầu tư từ nay được coi là vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

·         Nghị Định 82/2018 đưa ra ba loại khu công nghiệp mới gồm khu công nghiệp hỗ trợ, khu công nghiệp sinh thái và khu công nghiệp - đô thị - dịch vụ. Một số ưu đãi đầu tư sẽ được áp dụng với các khu công nghiệp hỗ trợ và khu công nghiệp sinh thái (ví dụ: miễn tiền thuê đất, vốn vay ưu đãi hoặc cho thuê đất với thời hạn tối đa). Khu công nghiệp - đô thị - dịch vụ có thể bao gồm khu dân cư và dịch vụ nhưng không quá một phần ba diện tích khu công nghiệp. Ngoài ra, khu chế xuất hiện từ nay được coi là một loại khu công nghiệp thay vì được phân loại thành một khu vực riêng.

·         Định nghĩa sửa đổi về doanh nghiệp chế xuất (DNCX) dường như chỉ ra rằng một DNCX không cần phải xuất khẩu tất cả các sản phẩm của mình. Thay vào đó, DNCX chỉ cần chuyên sản xuất các sản phẩm xuất khẩu.

·         Nghị Định 82/2018 cho phép một khu công nghiệp có các cơ sở nhà ở riêng biệt cho các nhà quản lý, giám đốc điều hành và chuyên gia nước ngoài.

Bài viết được đóng góp bởi Hà Kiều Anh, luật sư tập sự tại Venture North Law.

SỬA ĐỔI MỚI VỀ QUY ĐỊNH ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC GIÁO DỤC TẠI VIỆT NAM

Tháng 6 năm 2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định 86/2018 về hợp tác và đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài (Nghị Định 86/2018). Nghị Định 86/2018 thay thế Nghị Định 73/2012 kể từ tháng 8 năm 2018. So với Nghị Định 73/2012, Nghị Định 86/2018 đưa ra những thay đổi đáng chú ý như sau:

·         Nghị Định 86/2018 không còn áp dụng đối với đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực đào tạo nghề. 

·         Lần đầu tiên, việc hợp tác liên kết với các nhà đầu tư nước ngoài được cho phép ở tất cả các cấp học bao gồm các trường tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông. Theo Nghị Định 73/2012, việc hợp tác liên kết chỉ được phép ở cấp giáo dục đại học.

·         Nghị Định 86/2018 quy định rõ ràng nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực giáo dục bằng cách góp vốn hoặc mua cổ phần và phần vốn góp từ (1) cơ sở giáo dục Việt Nam hoặc (2) một tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã thành lập cơ sở giáo dục tại Việt Nam . Nghị Định 86/2018 cũng định nghĩa một cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài là một cơ sở giáo dục do tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư.

·         Nghị Định 86/2018 tăng số lượng tối đa học sinh trong nước mà một trường tiểu học, trung học cơ sở hoặc trường trung học phổ thông có vốn đầu tư nước ngoài đầu tư có thể tiếp nhận tới mức 50% tổng số học sinh. Theo Nghị Định 73/2012, mức trần là 20%.

·         Nghị Định 86/2018 khiến cho các nhà đầu tư nước ngoài khó đầu tư hơn vào các trường đại học ở Việt Nam bằng việc tăng số vốn đầu tư tối thiểu lên 1.000 tỷ đồng (từ 300 tỷ đồng).

Bài viết được đóng góp bởi Hà Kiều Anh, luật sư tập sự tại Venture North Law.

QUY ĐỊNH VỀ VÍ ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM

Ví Điện Tử là một công cụ quan trọng cho sự phát triển của các ngành công nghiệp thương mại điện tử và công nghệ tài chính. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ban hành một số quy định về ví điện tử. Tuy nhiên, các quy định này dường như không đầy đủ.

Theo Nghị định 101/2012, ví điện tử được coi là dịch vụ trung gian thanh toán, trong đó người dùng ví được cấp một tài khoản kỹ thuật số liên kết với phương tiện điện tử (ví dụ: điện thoại di động) và có chứa một giá trị tiền tệ. Giá trị tiền tệ trong ví điện tử được bảo đảm bằng tiền được chuyển từ tài khoản ngân hàng của người dùng sang tài khoản của nhà cung cấp dịch vụ ví. Người dùng chỉ có thể nạp và rút tiền mặt từ ví điện tử thông qua tài khoản của người dùng. Các khoản tiền trong tài khoản của nhà cung cấp dịch vụ ví chỉ có thể được sử dụng để thanh toán cho nhà cung cấp dịch vụ hoặc hàng hóa, hoặc để hoàn trả lại cho người dùng ví. Luật Phòng Chống Rửa Tiền 2012 yêu cầu một nhà cung cấp dịch vụ ví điện tử với tư cách như một tổ chức tài chính công nghệ mới phải gặp trực tiếp khách hàng của mình khi khách hàng thực hiện giao dịch lần đầu với nhà cung cấp dịch vụ.

TIÊU CHUẨN MỚI ĐỂ TRỞ THÀNH THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ ĐỘC LẬP TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẠI CHÚNG Ở VIỆT NAM

Nghị Định 71/2017 thay thế Thông Tư 121/2012 về quản trị doanh nghiệp của công ty cổ phần đại chúng (CTCP Đại Chúng) từ ngày 01/08/2017. Nghị Định 71/2017 không có tiêu chí riêng để một người trở thành thành viên hội đồng quản trị (HĐQT) độc lập nhưng đề cập đến các tiêu chí theo Luật Doanh Nghiệp 2014. Bảng dưới đây so sánh các tiêu chí cũ đối với một thành viên HĐQT độc lập trong một CTCP Đại Chúng với các tiêu chí mới theo Luật Doanh Nghiệp 2014. Mặc dù trong một số lĩnh vực, Luật Doanh Nghiệp 2014 quy định các tiêu chí nghiêm ngặt hơn, Luật Doanh nghiệp 2014 có một số thiếu sót lớn (ví dụ, bao gồm thiếu sót trong việc loại trừ người quản lý của công ty liên kết hoặc người đại diện hoặc người có liên quan của cổ đông lớn trong CTCP Đại Chúng khỏi việc giữ chức vụ thành viên HĐQT độc lập của CTCP Đại Chúng).

Bài viết được đóng góp bởi Hà Thành Phúc, luật sư tập sự tại Venture North Law.

NỘI DUNG CẤM ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG LIÊN QUAN TỚI TIỀN ẢO

Theo thông báo gần đây tại Công văn số 4486/UBCK-GSDC ngày 20/7/2018 , Ủy Ban Chứng khoán Nhà nước của Việt Nam (UBCKNN) yêu cầu các công ty đại chúng, công ty chứng khoán, công ty quản lý tài sản và quỹ đầu tư chứng khoán (i) không được thực hiện bất kỳ hoạt động phát hành, giao dịch hoặc môi giới giao dịch bất hợp pháp nào liên quan đến tiền ảo bao gồm tiền điện tử như Bitcoin và (ii) tuân thủ các quy định pháp luật về phòng chống rửa tiền.

Công văn trên được dựa trên Chỉ thị 10/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 11 tháng 4 năm 2018. Cả hai văn bản một lần nữa khẳng định quan điểm của Chính Phủ Việt Nam về tiền ảo được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nêu trong thông cáo báo chí ngày 27 tháng 2 năm 2014 về Bitcoin tại Việt Nam:

(a) tiền ảo không phải là tiền tệ; và

(b) tiền ảo không phải là phương tiện thanh toán hợp pháp.

LUẬT CẠNH TRANH 2018 CỦA VIỆT NAM

Luật Cạnh tranh mới (Luật Cạnh tranh 2018) sẽ có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 7 năm 2019 tại Việt Nam. Một số thay đổi quan trọng của Luật Cạnh Tranh 2018 như sau:

Phạm vi áp dụng rộng hơn: Luật Cạnh tranh 2018 giờ đây sẽ điều chỉnh bất kỳ hoạt động nào bất kể hoạt động đó thực hiện bởi pháp nhân, cá nhân Việt Nam hay nước ngoài gây hoặc có khả năng gây “tác động hạn chế cạnh tranh” đối với thị trường Việt Nam. Tác động hạn chế cạnh tranh có nghĩa là tác động loại trừ, làm giảm, sai lệch hoặc cản trở cạnh tranh trên thị trường. Theo Luật Cạnh Tranh 2018, cơ quan cạnh tranh của Việt Nam sẽ có thẩm quyền rõ ràng để xử lý các hoạt động và giao dịch ngoài lãnh thổ có tác động đến thị trường Việt Nam. Ngoài ra, Luật Cạnh tranh 2018 hiện nay cũng áp dụng cho các đơn vị sự nghiệp công lập như bệnh viện, hoặc trường học vốn về cơ bản không phải là doanh nghiệp.

LUẬT AN NINH MẠNG NĂM 2018 CỦA VIỆT NAM

Luật mới về an ninh mạng (LANM 2018) sẽ có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2019 tại Việt Nam. Luật này không chỉ cung cấp các biện pháp để bảo vệ môi trường mạng ở một mức độ nào đó đã được quy tại Luật An Toàn Thông Tin Mạng ngày 19 tháng 11 năm 2015, LANM 2018 cũng quy định các nội dung khác để kiểm soát các nội dung được đăng hoặc công bố trên mạng. Dưới đây là một số vấn đề nổi bật của LANM 2018.

PHẠM VI ÁP DỤNG CỦA LANM 2018

LANM 2018 áp dụng cho tất cả các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan đến việc bảo vệ an ninh mạng, được định nghĩa rất rộng để đảm bảo các hoạt động trong không gian mạng không gây hại cho an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân. Cụ thể, LANM 2018 sẽ áp dụng đối với các tổ chức ở nước ngoài có người dùng cư trú ở Việt Nam như Google hoặc Facebook.

LANM 2018 quy định bao trùm tất cả các mạng cơ sở hạ tầng CNTT, viễn thông, Internet, hệ thống máy tính, cơ sở dữ liệu, hệ thống kiểm soát và lưu trữ, xử lý thông tin, và điều chỉnh hoạt động của mọi doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trong không gian mạng và người dùng Internet bao gồm cả thương mại điện tử, trang web, diễn đàn trực tuyến, mạng xã hội và blog.

NGHĨA VỤ BẢO MẬT CỦA LUẬT SƯ TẠI VIỆT NAM

Luật sư tại Việt Nam phải tuân thủ nghĩa vụ bảo mật sau đây với khách hàng của mình, bao gồm:

·         Luật sư  tiết lộ thông tin về vụ, việc, và khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý hoặc pháp luật có quy định khác (ví dụ, Bộ Luật Hình Sự 2015). Do nguyên tắc này quy định thêm việc “pháp luật có quy định khác”, luật sư không thể viện dẫn nguyên tắc này để từ chối yêu cầu cung cấp thông tin hoặc làm chứng chống lại khách hàng của mình trong một vụ án hình sự;

·         Luật sư không được sử dụng các thông tin về vụ, việc, và khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

·         Tổ chức hành nghề luật sư có trách nhiệm bảo đảm các luật sư và nhân viên trong tổ chức đó không tiết lộ thông tin về vụ, việc, và khách hàng của tổ chức đó; và

TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA LUẬT SƯ ĐỐI VỚI VIỆC KHÔNG TỐ GIÁC CÁC TỘI PHẠM ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI CÔNG TY TẠI VIỆT NAM

Theo Điều 19.3 của Bộ Luật Hình Sự 2015 của Việt Nam, nếu một người bào chữa, trong quá trình bảo vệ cho bị cáo, biết rõ tội phạm đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện hoặc đang được chuẩn bị thực hiện bởi bị cáo đó, người bào chữa sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với việc không tố giác tội phạm đó với cơ quan có thẩm quyền trừ trường hợp tội phạm đó là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội phạm liên quan đến an ninh quốc gia. Đây dường như là một phiên bản cấp thấp của Đặc Quyền Luật Sư và Thân Chủ (Attorney-Client Privilege) trong một số hệ thống pháp luật khác. Bộ Luật Hình Sự 1999 trước đây không quy định rõ ràng việc miễn trừ trách nhiệm nhiệm hình sự của người bào chữa đối với việc không tố giác tội phạm. Quyền được miễn trừ của người bào chữa theo Điều 19.3 được đưa ra lần đầu trong Bộ Luật Hình Sự 2015. Khi áp dụng Điều 19.3 trong trường hợp liên quan tới trách nhiệm hình sự của công ty, những điểm sau nên được lưu ý:

HƯỚNG DẪN MỚI VỀ THỦ TỤC RÚT GỌN TRONG GIẢI QYẾT TRANH CHẤP VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI VIỆT NAM

Ngày 15 tháng 5 năm 2018, Tòa án nhân dân Tối cao đã ban hành Nghị Quyết 3 về thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp phát sinh từ việc xử lý các khoản nợ xấu và tài sản bảo đảm của các khoản nợ xấu (Nghị Quyết 3). Nghị Quyết 3 là văn bản thi hành Nghị Quyết 42 của Quốc Hội về nợ xấu (Nghị Quyết 42). Nghị Quyết 3 có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 7 năm 2018 và sẽ hết hiệu lực khi Nghị Quyết 42 hết hiệu lực vào tháng 8 năm 2022. Nghị Quyết 3 sẽ áp dụng với các yêu cầu (1) được tòa án thụ lý giải quyết trước ngày 1 tháng 7 năm 2018 nhưng chưa được đưa ra xét xử; và (2) đã được thụ lý trong thời gian Nghị Quyết 3 có hiệu lực thi hành nhưng vẫn đang giải quyết khi Nghị quyết này hết hiệu lực. Nghị Quyết 3 không được áp dụng để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.

Nghị Quyết 42 cho phép các tranh chấp liên quan tới tài sản bảo đảm của nợ xấu được giải quyết theo thủ tục rút gọn. Nghị Quyết 3 quy định chi tiết thêm rằng:

CHUYỂN NHƯỢNG CAM KẾT KHOẢN VAY GIỮA CÁC NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM

Quy định về ngân hàng của Việt Nam không có cơ chế rõ ràng về việc chuyển nhượng cam kết khoản vay giữa các ngân hàng và tổ chức tín dụng tại Việt Nam. Cụ thể là,

·         Theo Thông Tư 9/2015 của Ngân Hàng Nhà Nước (NHNN) về mua, bán nợ, mua, bán nợ được định nghĩa là việc chuyển giao “quyền đòi nợ” phát sinh từ nghiệp vụ cho vay của ngân hàng (NH Gốc) cho bên mua nợ có thể là ngân hàng hoặc không phải là ngân hàng. Định nghĩa về nợ theo Thông Tư 09/2016 không bao gồm cam kết khoản vay khi một ngân hàng chỉ cam kết cho bên vay vay tiền nhưng chưa thực tế chưa giải ngân khoản vay. Vì vậy, mọi cơ chế mua bán nợ theo quy định của Thông Tư 9/2015 không được áp dụng trực tiếp cho việc chuyển nhượng cam kết khoản vay.

TIẾP NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT BẰNG HỢP ĐỒNG HỢP TÁC KINH DOANH TẠI VIỆT NAM

Tại Việt Nam, nếu một nhà đầu tư bất động sản (Nhà Đầu Tư) không thể Có Được Một Diện Tích Đất Thông Qua Các Phương Án Phổ Biến để thực hiện dự án đầu tư của mình, Nhà Đầu Tư có thể cân nhắc việc ký kết hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) với một người sử dụng đất trong nước. Theo cấu trúc của hợp đồng BCC, các bên không thành lập pháp nhân nhưng hợp tác với nhau sử dụng các nguồn lực sẵn có của mình (bao gồm cả quyền sử dụng đất) để thực hiện việc kinh doanh. Trong trường hợp này, bên có quyền sử dụng đất (Người Sử Dụng Đất) vẫn bảo lưu quyền đối với đất mà không chuyển nhượng cho Nhà Đầu Tư, tuy nhiên Nhà Đầu Tư có thể được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với tài sản gắn liền với đất (gọi chung là GCN quyền sở hữu). Có rủi ro là hợp đồng BCC có thể được xem hợp đồng cho thuê lại đất giữa người sử dụng đất và Nhà Đầu Tư. Tuy nhiên, cấu trúc hợp đồng BCC khá phổ biến trong thực tế và có cơ sở pháp lý nhất định cho cơ cấu này.

Các bước cơ bản để “có được” quyền sử dụng đất thông qua hợp đồng BCC như sau:

TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA CÔNG TY TRONG TRƯỜNG HỢP MỘT GIAO DỊCH MUA BÁN SÁP NHẬP TẠI VIỆT NAM

Bộ luật hình sự 2015 (BLHS 2015) không quy định về việc liệu trách nhiệm hình sự công ty thực hiện bởi một pháp nhân thương mại sẽ được kế thừa hoặc hủy bỏ nếu pháp nhân đó giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, và ngừng hoạt động. Theo Bộ Luật Dân Sự 2015, khi một pháp nhân bị sáp nhập, hợp nhất hoặc chia thì chỉ có nghĩa vụ dân sự của pháp nhân đó được chuyển cho pháp nhân mới (hoặc kế thừa) liên quan. Như vậy, trách nhiệm hình sự của pháp nhân đó có thể không được cho pháp nhân mới (hoặc kế thừa). Tương tự, theo Luật Doanh Nghiệp 2014, khi một doanh nghiệp bị sáp nhập, hợp nhất hoặc bị chia, chỉ có các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản được chuyển cho doanh nghiệp mới (hoặc kế thừa). Không rõ là liệu trách nhiệm hình của doanh nghiệp đầu tiên có thể đủ điều kiện để được coi là nghĩa vụ tài sản có thể được chuyển hoặc kế thừa bởi doanh nghiệp mới (hoặc kế thừa) hay không.

Theo quy định của Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự 2015, nếu một pháp nhân đã bị kết án về một tội phạm, thực hiện việc sáp nhập, chia tách, hợp nhất thì pháp nhân tiếp nhận các quyền và nghĩa vụ của pháp nhân đề cập ban đầu sẽ phải chịu trách nhiệm chấp hành các hình phạt bằng tiền. Quy định này dường như chỉ ra rằng không phải mọi trách nhiệm hình sự sẽ được sẽ được chuyển cho pháp nhân kế thừa. Mặc dù vậy, trong một Hội Thảo về trách nhiệm hình sự công ty, một cán bộ của Bộ Tư Pháp, là thành viên ban soạn thảo BLHS 2015 đã chỉ ra rằng cán bộ này ủng hộ quan điểm yêu cầu rằng trong trường hợp pháp nhân giải thể, sáp nhập, hợp nhất, hoặc bị chia, pháp nhân mới (hoặc kế thừa) phải thừa kế trách nhiệm hình sự của pháp nhân bị giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia.

NGHỊ ĐỊNH MỚI (NGHỊ ĐỊNH 81/2018) VỀ XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM

Vào ngày 22 tháng 5 năm 2018, Chính Phủ đã ban hành Nghị Định 81/2018 về hoạt động xúc tiến thương mại. Nghị Định 81/2018 sẽ có hiệu lực từ ngày 15 tháng 7 năm 2018 và thay thế Nghị Định 37/2006. Nghị Định 81/2018 đưa ra nhiều quy định mới liên quan tới hoạt động xúc tiến. Cụ thể là,

·         Thương nhân không được xúc tiến hàng hóa của mình bằng cách so sánh trực tiếp với sản phẩm của thương nhân khác vì bất kỳ mục đích gì. Trước đó, việc xúc tiến bằng cách so sánh giữa các sản phẩm chỉ bị cấm nếu việc xúc tiến là nhằm mục đích cạnh tranh không lành mạnh. Tuy nhiên, quy định này đã bị bãi bỏ theo Nghị Định 81/2018 do đó hạn chế về xúc tiến thông qua so sánh đã trở nên chặt chẽ hơn;

·         Hạn mức tối đa mới đối với các hoạt động xúc tiến thương mại liên quan đến chương trình khuyến mại tập trung. Trong trường hợp khuyến mại tập trung, giá trị tối đa của hàng hóa và dịch vụ được sử dụng cho việc xúc tiến và tỷ lệ giảm giá tối đa cho các hàng hóa và dịch vụ được xúc tiến có thể lên tới 100% giá trị của các hàng hóa và dịch vụ đó. Trước đây, mức giá trị tối đa của hàng hóa và dịch vụ được sử dụng cho việc xúc tiến và mức giảm giá tối đa trong mọi trường hợp chỉ có thể lên tới 50%;

VAI TRÒ CỦA CHƯƠNG TRÌNH TUÂN THỦ NỘI BỘ TRONG TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA CÔNG TY TẠI VIỆT NAM

Liên quan tới trách nhiệm hình sự của công ty, pháp luật Việt Nam không có quy định cụ thể về vai trò của chương trình tuân thủ nội bộ (corporate compliance program). Điều này có nghĩa là một chương trình tuân thủ nội bộ đang triển khai không thể được sử dụng trực tiếp để ngăn ngừa trách nhiệm hình sự của công ty. Điều này khác với Các Hệ Thông Pháp Luật Khác. Mặc dù vậy, một chương trình tuân thủ nội bộ có thể hữu ích theo quy định của BLHS 2015 vì các lý do sau đây:

·         Một công ty có thể tham chiếu đến việc triển khai chương trình tuân thủ nội bộ như là bằng chứng chứng minh rằng công ty không chỉ dẫn, hướng dẫn hay chấp nhận một hành vi tội phạm thực hiện bởi các cá nhân liên quan trong công ty; và

·         Chương trình tuân thủ có thể được xem như là tình tiết giảm nhẹ theo quy định của BLHS 2015 (một phương thức để ngăn chặn và giảm thiểu thiệt hại gây ra bởi hành vi phạm tội).

TRỞ NGẠI CHO VIỆC THÂU TÓM THÙ ĐỊCH TẠI VIỆT NAM

Xét đến sự thiếu rõ ràng của các Quy Định Về Chào Mua Công Khai và sự khó khăn trong việc thực thi các quy tắc đó trong thực tiễn, không quá khó khăn đối với nhà đầu tư trong việc tích lũy đáng kể cổ phần của một công ty cổ phần đại chúng (công ty mục tiêu) tại Việt Nam. Tuy nhiên, nếu nhà đầu tư này không được hậu thuẫn bởi Hội Đồng Quản Trị của công ty mục tiêu, thì nhà đầu tư không được hoan nghênh này có thể gặp khó khăn khi tham gia quản lý công ty mục tiêu ngay cả khi nhà đầu tư có thể nắm quyền kiểm soát của công ty mục tiêu ở cấp cổ đông. Điều này là bởi:

ÁP DỤNG SỞ HỮU GIÁN TIẾP TRONG VIỆC XÁC ĐỊNH GIỚI HẠN SỞ HỮU TRONG NGÂN HÀNG CỔ PHẦN VIỆT NAM

Một cổ đông (đặc biệt là một cổ đông nước ngoài) tại một ngân hàng cổ phần Việt Nam (Ngân Hàng VN) phải biết tỷ lệ nắm giữ của họ trong Ngân Hàng VN là bao nhiêu. Điều này là bởi (1) Có các mức sở hữu tối đa áp dụng cho một cổ đông đơn lẻ hoặc một nhóm người liên quan, và (2) một “Cổ Đông Lớn” cần có chấp thuận từ Ngân hàng nhà nước (NHNN). Việc Luật các tổ chức tín dụng 2010 (LCTCTD 2010) và Nghị Định 01/2014 đưa ra khái niệm về “sở hữu gián tiếp” đã dẫn tới khó có thể xác định chính xác tỷ lệ sở hữu cổ phần của một cổ đông trong một Ngân Hàng VN cho mục đích tại (1) và (2) nêu trên. Sở hữu gián tiếp được định nghĩa là việc một tổ chức, cá nhân sở hữu vốn điều lệ, vốn cổ phần của tổ chức tín dụng thông qua người có liên quan hoặc thông qua ủy thác đầu tư.

CÁC YÊU CẦU NGHIÊM NGẶT HƠN VỀ HOẠT ĐỘNG BÁN HÀNG ĐA CẤP

Vào tháng 3 năm 2018, Chính phủ đã ban hành một Nghị Định mới (Nghị Định 40/2018) về hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp (BHĐC). Nghị Định 40/2018 có hiệu lực từ ngày 2 tháng 5 năm 2018 thay thế cho cho Nghị Định 42/2014. Nhìn chung, Nghị nghị 40 kế thừa nhiều quy định của Nghị Định 42/2014 và thông tư hướng dẫn của Nghị Định này (Thông tư 24/2014). Mặc dù vậy, Nghị Định 40/2018 quy định nhiều yêu cầu mới và chặt chẽ hơn về hoạt động BHĐC. Cụ thể là,

KHÔNG CÓ KHÁI NIỆM VỀ PHỐI HỢP HÀNH ĐỘNG TRONG PHÁP LUẬT CHỨNG KHOÁN CỦA VIỆT NAM

Tại các hệ thống pháp luật khác, Phối Hợp Hành Động (Acting In Concert) về cơ bản được hiểu là sự hợp tác có chủ đích giữa hai hay nhiều bên để thực hiện việc kiểm soát một công ty niêm yết. Và quyền biểu quyết của những người được xem là phối hợp hành động sẽ có được cộng lại để tính xem liệu có cần thực hiện thủ tục công bố và/hoặc chào mua công khai bắt buộc hay không. Quy định về chứng khoán của Việt Nam không dự trù và quy định một cách rõ ràng khái niệm “phối hợp hành động”. Bởi vậy, ở Việt Nam việc những người không phải người liên quan theo luật có thể kết hợp phiếu biểu quyết của mình để kiểm soát (hoặc tác động tới việc kiểm soát) một công ty đại chúng mà không phải công bố hoặc thực hiện chào mua công khai là khá phố biến. Thực tế này có thể gây ra thiệt hại cho các nhà đầu tư đại chúng, những người không nắm được các thay đổi tiềm ẩn về quyền kiểm soát công ty đại chúng.