CÁC BIỆN PHÁP BỔ SUNG ĐỂ XỬ LÝ THẾ CHẤP CỔ PHẦN ĐỐI VỚI CÔNG TY DỰ ÁN TẠI VIỆT NAM

Đối với tài trợ dự án hoặc tài trợ thu hồi giới hạn ở Việt Nam, việc thế chấp cổ phần (hoặc vốn chủ sở hữu) của công ty dự án thường là một phần của gói giao dịch bảo đảm do có thể dễ dàng tạo lập và hoàn thành [việc đăng ký] thế chấp cổ phần. Mặc dù vậy, khi xuất hiện sự kiện xử lý bảo đảm và nếu bên vay hoặc công ty dự án không hợp tác, bên cho vay (thường là bên cho vay nước ngoài), muốn ngay lập tức tiếp nhận cổ phần thế chấp, có thể sẽ gặp khó khăn trong việc xử lý thế chấp trên thực tế do cần hoàn thành các thủ tục cấp phép khác nhau để bán hoặc chuyển nhượng cổ phần thế chấp.

Nhờ sự linh hoạt của Luật Doanh Nghiệp 2014 và Luật Đầu Tư 2014, bên cho vay hiện nay có thể cân nhắc thực hiện một số biện pháp bổ sung để tăng khả năng xử lý thế chấp đối với cổ phần của một công ty dự án tại Việt Nam. Cụ thể là,

· Bên cho vay nước ngoài có thể yêu cầu công ty dự án phải có được một văn bản thường được gọi là “Chấp Thuận M&A” theo Điều 26 của Luật Đầu Tư 2014 có lợi cho bên cho vay nước ngoài trước. Không giống như Giấy Chứng Nhận Đăng Ký Đầu Tư, một nhà đầu tư nước ngoài được cấp Chấp Thuận M&A không thực sự phải tuân theo quy định đầu tư. Ngoài ra. các thủ tục để có được Chấp Thuận M&A không yêu cầu phải nộp hợp đồng chuyển nhượng cổ phần cho cơ quan có thẩm quyền.

CHUYỂN ĐỔI CỔ PHẦN ƯU ĐÃI THÀNH CỔ PHẦN PHỔ THÔNG TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN TẠI VIỆT NAM

Luật Doanh Nghiệp 2014 không có quy định cụ thể về việc thay đổi quyền gắn liền với một loại cổ phần không phải là cổ phần phổ thông. Do Đại Hội Đồng Cổ Đông (ĐHĐCĐ) có quyền phát hành một loại cổ phần, nên về mặt logic, việc sửa đổi các quyền của loại cổ phần cũng cần được ĐHĐCĐ chấp thuận. Theo Điều 113.6 của Luật Doanh Nghiệp 2014,

· Cổ phần phổ thông không thể chuyển đổi thành cổ phần ưu đãi; và

· Cổ phần ưu đãi có thể được chuyển đổi thành cổ phần phổ thông theo nghị quyết của ĐHĐCĐ.

Không có định nghĩa về “chuyển đổi” trong ngữ cảnh của Điều 113.6. Tuy nhiên, việc chuyển đổi từ một loại cổ phần này sang một loại cổ phần khác có thể sẽ dẫn đến việc thay đổi quyền gắn liền với cổ phần được chuyển đổi. Do đó, có thể lập luận việc chuyển đổi cổ phần đủ điều kiện được coi là sự thay đổi về loại quyền. Mỗi cổ phần trong vốn điều lệ của một Công ty Cổ phần có cùng mệnh giá. Do đó, về mặt logic, chỉ có thể chuyển đổi một cổ phần ưu đãi thành một cổ phần phổ thông. Nếu một cổ phần ưu đãi không được chuyển đổi thành một cổ phần phổ thông thì vốn điều lệ của Công ty Cổ phần sẽ bị tăng hoặc giảm, điều này không rõ có được cho phép theo quy định của pháp luật.

THỜI GIAN TỔ CHỨC LẠI CUỘC HỌP HĐQT TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM

Theo Điều 153 của Luật Doanh Nghiệp 2014, Chủ tịch Hội đồng quản trị (Chủ Tịch HĐQT) phải triệu tập cuộc họp của HĐQT trong vòng 7 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu tổ chức họp bất thường. Trong trường hợp cuộc họp đầu tiên không có đủ từ ba phần tư tổng số thành viên HĐQT trở lên, cuộc họp thứ hai phải được triệu tập trong vòng bảy ngày kể từ ngày dự kiến tổ chức cuộc họp đầu tiên trừ trường hợp điều lệ công ty quy định một thời hạn ngắn hơn. 

Theo các quy định trên, có thể xảy ra tranh chấp về thời gian “triệu tập” của cuộc họp thứ hai. Một mặt có thể lập luận rằng cuộc họp thứ hai của HĐQT phải được tổ chức trong vòng 7 ngày hoặc một khoảng thời gian ngắn hơn được quy định trong điều lệ công ty.

DỰ THẢO SỬA ĐỔI LUẬT CHỨNG KHOÁN 2006 CỦA VIỆT NAM

Bộ Tài Chính vừa công bố dự thảo sửa đổi mới nhất cho Luật Chứng Khoán 2006 ( Https://Tinyurl.Com/Ydc44zyd ), dự kiến sẽ được thông qua vào nửa cuối năm 2019. Dường như bất kỳ luật lớn nào ở Việt Nam sẽ cần phải trải qua những thay đổi lớn trong mỗi 10 năm dù những thay đổi đó có cần thiết hay không. Dự thảo sửa đổi bao gồm những thay đổi lớn sau đây liên quan đến quá trình tăng vốn:

· Việc phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu riêng lẻ giờ đây chỉ có thể được thực hiện cho ít hơn 100 “nhà đầu tư chuyên nghiệp”, một hoặc các “nhà đầu tư chiến lược”. Không có định nghĩa về “nhà đầu tư chiến lược”. Định nghĩa về “nhà đầu tư chuyên nghiệp” được sửa đổi để bao gồm (1) công ty niêm yết có vốn điều lệ từ 1000 tỷ đồng trở lên và (2) cá nhân có giá trị ròng cao (high net-worth individuals) có kinh nghiệm và đủ tiêu chuẩn hành nghề giao dịch chứng khoán.

CHUYỂN GIAO DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC LỚN LỚN CỦA VIỆT NAM CHO ỦY BAN QUẢN LÝ VỐN NHÀ NƯỚC TẠI DOANH NGHIỆP

Kể từ ngày 29 tháng 9 năm 2018, theo Nghị Định 131/2018, Chính Phủ quyết định chuyển giao việc quản lý 19 doanh nghiệp nhà nước (DNNN) từ nhiều Bộ khác nhau sang cho Ủy Ban Quản Lý Vốn Nhà Nước tại Doanh Nghiệp (UBQLV). Tóm tắt chi tiết về từng DNNN được đưa ra dưới đây:

ỦY QUYỀN BIỂU QUYẾT CỦA THÀNH VIÊN HĐQT TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN VIỆT NAM

Luật Doanh Nghiệp 2014 quy định rằng trong cuộc họp Hội đồng quản trị (HĐQT) của một công ty cổ phần (CTCP), một thành viên HĐQT có thể ủy quyền cho một người khác tham dự nếu việc ủy quyền đó được đa số thành viên HĐQT. Tuy nhiên, Luật Doanh Nghiệp 2014 không có quy định về khả năng thành viên HĐQT ủy quyền cho người khác biểu quyết thay cho thành viên HĐQT đó nếu HĐQT quyết định thông qua quyết định bằng văn bản.

Có thể lập luận rằng việc ủy ​​quyền để biểu quyết thông qua hình thức lấy ý kiến ​​bằng văn bản của các thành viên HĐQT được cho phép bởi vì:

SỬA ĐỔI MỚI VỀ QUY ĐỊNH ĐĂNG KÝ KINH DOANH ĐỐI VỚI CÁC CÔNG TY TẠI VIỆT NAM

Nghị Định mới (Nghị Định 108/2018) được ban hành ngày 23 tháng 8 năm 2018 đưa ra nhiều sửa đổi đối với các quy định đăng ký kinh doanh hiện hành theo Nghị Định 78/2015. Nghị Định 108/2018 sẽ có hiệu lực kể từ ngày 10 tháng 11 năm 2018. Dưới đây là một số thay đổi đáng chú ý:

·         Nghị Định 108/2018 làm rõ nội dung không quy định trong Nghị Định 78/2018 về việc các tài liệu sau đây trong hồ sơ đăng ký không bắt buộc phải đóng dấu của công ty: giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp; thông báo thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp; và quyết định, nghị quyết và biên bản họp.

·         Giấy ủy quyền, cho phép một người đại diện cho một doanh nghiệp thực hiện thủ tục với cơ quan đăng ký kinh doanh không còn cần phải được công chứng hoặc chứng thực.

·         Nghị Định 108/2018 bãi bỏ yêu cầu một doanh nghiệp chỉ có thể lập một “điểm kinh doanh” ở tỉnh, thành phố nơi doanh nghiệp có trụ sở chính hoặc chi nhánh. Điều này có nghĩa là doanh nghiệp có thể có điểm kinh doanh tại tỉnh, thành phố mà doanh nghiệp không có chi nhánh hoặc trụ sở chính tại đó.

·         Trường hợp đăng ký giảm vốn điều lệ, doanh nghiệp không còn bị yêu cầu phải nộp báo cáo tài chính mới nhất.

·         Liên quan tới các thay đổi về thông tin của cổ đông sáng lập, theo Nghị Định 108/2018, công ty cổ phần chỉ phải thông báo những thay đổi đó trong trường hợp cổ đông sáng lập không thanh toán đầy đủ số cổ phần đã đăng ký mua khi công ty được thành lập. Theo Nghị Định 78/2015, một công ty cổ phần cũng phải thông báo những thay đổi đó khi cổ đông sáng lập chuyển nhượng cổ phần của mình.

Bài viết được đóng góp bởi Hà Thành Phúc, luật sư tập sự tại Venture North Law.

TIÊU CHUẨN MỚI ĐỂ TRỞ THÀNH THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ ĐỘC LẬP TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẠI CHÚNG Ở VIỆT NAM

Nghị Định 71/2017 thay thế Thông Tư 121/2012 về quản trị doanh nghiệp của công ty cổ phần đại chúng (CTCP Đại Chúng) từ ngày 01/08/2017. Nghị Định 71/2017 không có tiêu chí riêng để một người trở thành thành viên hội đồng quản trị (HĐQT) độc lập nhưng đề cập đến các tiêu chí theo Luật Doanh Nghiệp 2014. Bảng dưới đây so sánh các tiêu chí cũ đối với một thành viên HĐQT độc lập trong một CTCP Đại Chúng với các tiêu chí mới theo Luật Doanh Nghiệp 2014. Mặc dù trong một số lĩnh vực, Luật Doanh Nghiệp 2014 quy định các tiêu chí nghiêm ngặt hơn, Luật Doanh nghiệp 2014 có một số thiếu sót lớn (ví dụ, bao gồm thiếu sót trong việc loại trừ người quản lý của công ty liên kết hoặc người đại diện hoặc người có liên quan của cổ đông lớn trong CTCP Đại Chúng khỏi việc giữ chức vụ thành viên HĐQT độc lập của CTCP Đại Chúng).

Bài viết được đóng góp bởi Hà Thành Phúc, luật sư tập sự tại Venture North Law.

LUẬT CẠNH TRANH 2018 CỦA VIỆT NAM

Luật Cạnh tranh mới (Luật Cạnh tranh 2018) sẽ có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 7 năm 2019 tại Việt Nam. Một số thay đổi quan trọng của Luật Cạnh Tranh 2018 như sau:

Phạm vi áp dụng rộng hơn: Luật Cạnh tranh 2018 giờ đây sẽ điều chỉnh bất kỳ hoạt động nào bất kể hoạt động đó thực hiện bởi pháp nhân, cá nhân Việt Nam hay nước ngoài gây hoặc có khả năng gây “tác động hạn chế cạnh tranh” đối với thị trường Việt Nam. Tác động hạn chế cạnh tranh có nghĩa là tác động loại trừ, làm giảm, sai lệch hoặc cản trở cạnh tranh trên thị trường. Theo Luật Cạnh Tranh 2018, cơ quan cạnh tranh của Việt Nam sẽ có thẩm quyền rõ ràng để xử lý các hoạt động và giao dịch ngoài lãnh thổ có tác động đến thị trường Việt Nam. Ngoài ra, Luật Cạnh tranh 2018 hiện nay cũng áp dụng cho các đơn vị sự nghiệp công lập như bệnh viện, hoặc trường học vốn về cơ bản không phải là doanh nghiệp.

NGHĨA VỤ BẢO MẬT CỦA LUẬT SƯ TẠI VIỆT NAM

Luật sư tại Việt Nam phải tuân thủ nghĩa vụ bảo mật sau đây với khách hàng của mình, bao gồm:

·         Luật sư  tiết lộ thông tin về vụ, việc, và khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý hoặc pháp luật có quy định khác (ví dụ, Bộ Luật Hình Sự 2015). Do nguyên tắc này quy định thêm việc “pháp luật có quy định khác”, luật sư không thể viện dẫn nguyên tắc này để từ chối yêu cầu cung cấp thông tin hoặc làm chứng chống lại khách hàng của mình trong một vụ án hình sự;

·         Luật sư không được sử dụng các thông tin về vụ, việc, và khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

·         Tổ chức hành nghề luật sư có trách nhiệm bảo đảm các luật sư và nhân viên trong tổ chức đó không tiết lộ thông tin về vụ, việc, và khách hàng của tổ chức đó; và

TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA LUẬT SƯ ĐỐI VỚI VIỆC KHÔNG TỐ GIÁC CÁC TỘI PHẠM ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI CÔNG TY TẠI VIỆT NAM

Theo Điều 19.3 của Bộ Luật Hình Sự 2015 của Việt Nam, nếu một người bào chữa, trong quá trình bảo vệ cho bị cáo, biết rõ tội phạm đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện hoặc đang được chuẩn bị thực hiện bởi bị cáo đó, người bào chữa sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với việc không tố giác tội phạm đó với cơ quan có thẩm quyền trừ trường hợp tội phạm đó là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội phạm liên quan đến an ninh quốc gia. Đây dường như là một phiên bản cấp thấp của Đặc Quyền Luật Sư và Thân Chủ (Attorney-Client Privilege) trong một số hệ thống pháp luật khác. Bộ Luật Hình Sự 1999 trước đây không quy định rõ ràng việc miễn trừ trách nhiệm nhiệm hình sự của người bào chữa đối với việc không tố giác tội phạm. Quyền được miễn trừ của người bào chữa theo Điều 19.3 được đưa ra lần đầu trong Bộ Luật Hình Sự 2015. Khi áp dụng Điều 19.3 trong trường hợp liên quan tới trách nhiệm hình sự của công ty, những điểm sau nên được lưu ý:

TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA CÔNG TY TRONG TRƯỜNG HỢP MỘT GIAO DỊCH MUA BÁN SÁP NHẬP TẠI VIỆT NAM

Bộ luật hình sự 2015 (BLHS 2015) không quy định về việc liệu trách nhiệm hình sự công ty thực hiện bởi một pháp nhân thương mại sẽ được kế thừa hoặc hủy bỏ nếu pháp nhân đó giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, và ngừng hoạt động. Theo Bộ Luật Dân Sự 2015, khi một pháp nhân bị sáp nhập, hợp nhất hoặc chia thì chỉ có nghĩa vụ dân sự của pháp nhân đó được chuyển cho pháp nhân mới (hoặc kế thừa) liên quan. Như vậy, trách nhiệm hình sự của pháp nhân đó có thể không được cho pháp nhân mới (hoặc kế thừa). Tương tự, theo Luật Doanh Nghiệp 2014, khi một doanh nghiệp bị sáp nhập, hợp nhất hoặc bị chia, chỉ có các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản được chuyển cho doanh nghiệp mới (hoặc kế thừa). Không rõ là liệu trách nhiệm hình của doanh nghiệp đầu tiên có thể đủ điều kiện để được coi là nghĩa vụ tài sản có thể được chuyển hoặc kế thừa bởi doanh nghiệp mới (hoặc kế thừa) hay không.

Theo quy định của Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự 2015, nếu một pháp nhân đã bị kết án về một tội phạm, thực hiện việc sáp nhập, chia tách, hợp nhất thì pháp nhân tiếp nhận các quyền và nghĩa vụ của pháp nhân đề cập ban đầu sẽ phải chịu trách nhiệm chấp hành các hình phạt bằng tiền. Quy định này dường như chỉ ra rằng không phải mọi trách nhiệm hình sự sẽ được sẽ được chuyển cho pháp nhân kế thừa. Mặc dù vậy, trong một Hội Thảo về trách nhiệm hình sự công ty, một cán bộ của Bộ Tư Pháp, là thành viên ban soạn thảo BLHS 2015 đã chỉ ra rằng cán bộ này ủng hộ quan điểm yêu cầu rằng trong trường hợp pháp nhân giải thể, sáp nhập, hợp nhất, hoặc bị chia, pháp nhân mới (hoặc kế thừa) phải thừa kế trách nhiệm hình sự của pháp nhân bị giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia.

VAI TRÒ CỦA CHƯƠNG TRÌNH TUÂN THỦ NỘI BỘ TRONG TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA CÔNG TY TẠI VIỆT NAM

Liên quan tới trách nhiệm hình sự của công ty, pháp luật Việt Nam không có quy định cụ thể về vai trò của chương trình tuân thủ nội bộ (corporate compliance program). Điều này có nghĩa là một chương trình tuân thủ nội bộ đang triển khai không thể được sử dụng trực tiếp để ngăn ngừa trách nhiệm hình sự của công ty. Điều này khác với Các Hệ Thông Pháp Luật Khác. Mặc dù vậy, một chương trình tuân thủ nội bộ có thể hữu ích theo quy định của BLHS 2015 vì các lý do sau đây:

·         Một công ty có thể tham chiếu đến việc triển khai chương trình tuân thủ nội bộ như là bằng chứng chứng minh rằng công ty không chỉ dẫn, hướng dẫn hay chấp nhận một hành vi tội phạm thực hiện bởi các cá nhân liên quan trong công ty; và

·         Chương trình tuân thủ có thể được xem như là tình tiết giảm nhẹ theo quy định của BLHS 2015 (một phương thức để ngăn chặn và giảm thiểu thiệt hại gây ra bởi hành vi phạm tội).

TRỞ NGẠI CHO VIỆC THÂU TÓM THÙ ĐỊCH TẠI VIỆT NAM

Xét đến sự thiếu rõ ràng của các Quy Định Về Chào Mua Công Khai và sự khó khăn trong việc thực thi các quy tắc đó trong thực tiễn, không quá khó khăn đối với nhà đầu tư trong việc tích lũy đáng kể cổ phần của một công ty cổ phần đại chúng (công ty mục tiêu) tại Việt Nam. Tuy nhiên, nếu nhà đầu tư này không được hậu thuẫn bởi Hội Đồng Quản Trị của công ty mục tiêu, thì nhà đầu tư không được hoan nghênh này có thể gặp khó khăn khi tham gia quản lý công ty mục tiêu ngay cả khi nhà đầu tư có thể nắm quyền kiểm soát của công ty mục tiêu ở cấp cổ đông. Điều này là bởi:

ÁP DỤNG SỞ HỮU GIÁN TIẾP TRONG VIỆC XÁC ĐỊNH GIỚI HẠN SỞ HỮU TRONG NGÂN HÀNG CỔ PHẦN VIỆT NAM

Một cổ đông (đặc biệt là một cổ đông nước ngoài) tại một ngân hàng cổ phần Việt Nam (Ngân Hàng VN) phải biết tỷ lệ nắm giữ của họ trong Ngân Hàng VN là bao nhiêu. Điều này là bởi (1) Có các mức sở hữu tối đa áp dụng cho một cổ đông đơn lẻ hoặc một nhóm người liên quan, và (2) một “Cổ Đông Lớn” cần có chấp thuận từ Ngân hàng nhà nước (NHNN). Việc Luật các tổ chức tín dụng 2010 (LCTCTD 2010) và Nghị Định 01/2014 đưa ra khái niệm về “sở hữu gián tiếp” đã dẫn tới khó có thể xác định chính xác tỷ lệ sở hữu cổ phần của một cổ đông trong một Ngân Hàng VN cho mục đích tại (1) và (2) nêu trên. Sở hữu gián tiếp được định nghĩa là việc một tổ chức, cá nhân sở hữu vốn điều lệ, vốn cổ phần của tổ chức tín dụng thông qua người có liên quan hoặc thông qua ủy thác đầu tư.

KHÔNG CÓ KHÁI NIỆM VỀ PHỐI HỢP HÀNH ĐỘNG TRONG PHÁP LUẬT CHỨNG KHOÁN CỦA VIỆT NAM

Tại các hệ thống pháp luật khác, Phối Hợp Hành Động (Acting In Concert) về cơ bản được hiểu là sự hợp tác có chủ đích giữa hai hay nhiều bên để thực hiện việc kiểm soát một công ty niêm yết. Và quyền biểu quyết của những người được xem là phối hợp hành động sẽ có được cộng lại để tính xem liệu có cần thực hiện thủ tục công bố và/hoặc chào mua công khai bắt buộc hay không. Quy định về chứng khoán của Việt Nam không dự trù và quy định một cách rõ ràng khái niệm “phối hợp hành động”. Bởi vậy, ở Việt Nam việc những người không phải người liên quan theo luật có thể kết hợp phiếu biểu quyết của mình để kiểm soát (hoặc tác động tới việc kiểm soát) một công ty đại chúng mà không phải công bố hoặc thực hiện chào mua công khai là khá phố biến. Thực tế này có thể gây ra thiệt hại cho các nhà đầu tư đại chúng, những người không nắm được các thay đổi tiềm ẩn về quyền kiểm soát công ty đại chúng.

TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA CÔNG TY TẠI VIỆT NAM

Bộ Luật Hình Sự 2015 có hiệu lực từ 1 tháng 1 năm 2018 lần đầu tiên đưa ra trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân tại Việt Nam. Trước khi có Bộ Luật Hình Sự 2015, chỉ có các cá nhân mới phải chịu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam. Đây là một thay đổi lớn đối với hệ thống luật hình sự Việt Nam. Tài liệu kèm theo đây tóm tắt các phân tích của chúng tôi về trách nhiệm hình sự của công ty tại Việt Nam trong Tập 2 của sách Những nguyên tắc của Luật Doanh Nghiệp Việt Nam.

Bấm vào Đây để tải về.

NHẬN DIỆN CỔ ĐÔNG LỚN TRONG MỘT NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

Theo quy định của Luật Các Tổ Chức Tín Dụng 2010,

·         Cổ đông lớn của một ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam (Ngân Hàng VN) là cổ đông sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp ít nhất 5% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết của Ngân Hàng VN. Sở hữu gián tiếp được định nghĩa là một tổ chức hoặc các nhân sở hữu vốn điều lệ hoặc vốn cổ phần của một tổ chức tín dụng thông qua một người liên quan hoặc quỹ đầu tư; và

·         Yêu cầu phải có chấp thuận của NHNN đối với “việc chuyển nhượng cổ phần bởi cổ đông lớn” hoặc “chuyển nhượng cổ phần dẫn tới một cổ đông lớn trở thành cổ đông nhỏ và ngược lại.”

TẦM QUAN TRỌNG CỦA TỶ LỆ SỞ HỮU CỔ PHẦN CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

Việc xác định tỷ lệ sở hữu cổ phần của một nhà đầu tư nước ngoài trong ngân hàng thương mại Việt Nam (Ngân Hàng VN) là rất quan trọng, bởi vì:

·         Có sự khác biệt về giới hạn sở hữu nước ngoài áp dụng đối với từng loại nhà đầu tư nước ngoài trong một Ngân Hàng VN (xem tại Đây);

·         Tồn tại các yêu cầu khác nhau áp dụng đối với nhà đầu tư nước ngoài trong một Ngân Hàng VN phụ thuộc vào tỷ lệ sở hữu cổ phần của nhà đầu tư đó. Ví dụ, một nhà đầu tư nước ngoài sở hữu từ 10% cổ phần trở lên phải (bao gồm nhưng không giới hạn) có xếp loại tính dụng quốc tế và phải có tổng tài sản từ 10 tỷ đô la Mỹ trở lên (đối với các nhà đầu tư là tổ chức tài chính) hoặc vốn điều lệ từ 1 tỷ đô la Mỹ trở lên (đối với các nhà đầu tư không phải là tổ chức tài chính);

QUY ĐỊNH MỚI VỀ SỬA ĐỔI BỔ SUNG LUẬT CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG 2010 TẠI VIỆT NAM

Tháng 11 năm 2017, Quốc Họi đã thông qua nhiều sửa đổi bổ sung đối với Luật Các Tổ Chức Tín Dụng 2010 (Luật TCTD Sửa Đổi). Khoảng hai phần ba Luật TCTD Sửa Đổi tập trung vào quy định về tái cơ cấu, giải cứu, và giải thể tổ chức tín dụng. Điều này có thể lý giải khoảng thời gian tương đối ngắn giữa ngày ban hành và ngày có hiệu lực của Luật TCTD Sửa Đổi. Luật TCTD Sửa Đổi có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 1 năm 2018, chưa đầy hai tháng kể từ thời điểm ban hành. Quốc hội thường để một luật có hiệu lực sau khoảng thời gian từ sáu tháng tới một năm. Điều này có vẻ như cho thấy nhận thức về sự cấp thiết của Ngân Hàng Nhà Nước (NHNN) trong việc xử lý nhiều ngân hàng đã được NHNN giải cứu trong một số năm gần đây.

Bên cạnh các quy định về tái cơ cấu, giải cứu và giải thế tổ chức tín dụng, Luật TCTD Sửa Đổi đưa ra một loạt quy định khác nhằm cải thiện việc quản trị và vận hành của tổ chức tín dụng. Các sửa đổi, bổ sung này bao gồm: