QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH MUA BÁN NỢ

1. Hiện nay, hoạt động mua bán nợ của các chủ thể không phải tổ chức tín dụng (TCTD) không phải là ngành, nghề kinh doanh có điều kiện. Cụ thể, Luật Đầu Tư của Quốc Hội ngày 17 tháng 6 năm 2020 (Luật Đầu Tư 2020) đã loại bỏ ngành nghề “kinh doanh dịch vụ mua bán nợ” ra khỏi danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Theo thuyết minh của ban soạn thảo Luật Đầu Tư 2020 , chủ thể của giao dịch mua bán nợ có thể là bất kỳ chủ thể kinh doanh nào, dịch vụ mua bán nợ chỉ là dịch vụ hỗ trợ, thúc đẩy các giao dịch mua bán nợ và hệ thống pháp luật về dân sự, thương mại liên quan tới hoạt động mua bán hiện tại đã đủ cơ sở pháp lý để điều chỉnh giao dịch mua bán nợ cũng như các giao dịch hỗ trợ mua bán nợ (http://vibonline.com.vn/wp-content/uploads/2019/10/4._Thuyet_minh_du_thao_Luat.pdf).

Nghị Định mới về biện pháp bảo đảm ở Việt Nam

Ngày 19 tháng 3 năm 2021, Chính Phủ đã ban hành Nghị Định 21 hướng dẫn Bộ Luật Dân Sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ (Nghị Định 21/2021). Nghị Định 21/2021 thay thế Nghị Định 163 của Chính Phủ ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm (Nghị Định 163/2006) từ ngày 15/5/2021.

Quyền tự do thỏa thuận của các bên

Nghị Định 21/2021 dường như cho phép các bên trong giao dịch bảo đảm thỏa thuận bất kỳ vấn đề gì liên quan đến giao dịch bảo đảm miễn là thỏa thuận đó tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của Bộ Luật Dân Sự 2015, không vi phạm các điều kiện để giao dịch có hiệu lực, không vi phạm giới hạn thực hiện quyền dân sự theo quy định của Bộ Luật Dân Sự 2015 và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Bên nhận bảo đảm trong giao dịch bảo đảm có thể khác với bên có quyền theo quy định của pháp luật Việt Nam không?

Theo pháp luật Việt Nam, cách hiểu thông thường là bên có quyền (ví dụ bên cho vay) phải là bên nhận bảo đảm (ví dụ bên nhận thế chấp) trong một giao dịch bảo đảm mặc dù bên bảo đảm (ví dụ bên thế chấp) có thể khác với bên có nghĩa vụ (ví dụ bên vay). Trên thực tế, đây đã là quan điểm theo Nghị định 163/2006 trong nhiều năm. Tuy nhiên, Nghị Định 21/2021 mới thay thế Nghị Định 163/2006 từ ngày 15 tháng 5 năm 2021 đã xóa bỏ mô tả rõ ràng rằng bên có quyền là bên được bảo đảm trong nghĩa vụ được bảo đảm. Không rõ rằng liệu thay đổi này có thể tạo ra khả năng bên nhận bảo đảm không cần phải là bên có quyền trong giao dịch bảo đảm hay không.

Một ví dụ rõ ràng hơn được đưa ra trong bối cảnh của việc phát hành trái phiếu có bảo đảm ra công chúng. Cụ thể, Nghị Định 155/2020 quy định rằng trong trường hợp phát hành trái phiếu có bảo đảm ra công chúng:

Nghị Định 153/2020 mới về Phát Hành Trái Phiếu Doanh Nghiệp ở Việt Nam

Vào tháng 12 năm 2020, Chính Phủ đã ban hành Nghị Định 153/2020, quy định, bên cạnh những quy định khác, về việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ của các tổ chức phát hành trái phiếu Việt Nam. Nghị Định 153/2020 không điều chỉnh việc chào bán trái phiếu doanh nghiệp ra công chúng. Nghị Định 153/2020 có những điểm đáng chú ý sau liên quan đến phát hành trái phiếu doanh nghiệp ở Việt Nam:

· Bảo lãnh phát hành trái phiếu doanh nghiệp - Nghị Định 153/2020 cho phép việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ được bảo lãnh bởi bên bảo lãnh doanh nghiệp thay vì bên bảo lãnh ngân hàng theo Nghị Định 163/2018.

· Ít điều kiện phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ hơn – Nghị Định 153/2020 không còn yêu cầu một doanh nghiệp phải có ít nhất một năm hoạt động. Yêu cầu không thanh toán quá hạn đối với các trái phiếu trước đó được hủy bỏ nếu tổ chức phát hành có kế hoạch phát hành trái phiếu cho một tổ chức tài chính được lựa chọn.