HOÀN TRẢ GIÁ MUA NỢ CHO BÊN MUA NỢ NƯỚC NGOÀI

1. BỐI CẢNH

1.1. Một công ty Việt Nam (Bên Bán) xuất khẩu hàng hoá cho một công ty nước ngoài (Bên Mua) theo một hợp đồng mua bán hàng hóa (Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa).

1.2 Bên Bán chuyển nhượng khoản phải thu trong Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa (Khoản Phải Thu) cho một công ty nước ngoài khác (Bên Mua Nợ) (không phải là tổ chức tín dụng) thông qua một hợp đồng mua bán nợ (Hợp Đồng Mua Bán Nợ) với giá mua nợ bằng 90% giá trị Khoản Phải Thu (Giá Mua Nợ).

1.3 Theo Hợp Đồng Mua Bán Nợ,

1.3.1. Bên Mua Nợ sẽ ứng trước Giá Mua Nợ cho Bên Bán và sẽ nhận được Khoản Phải Thu từ Bên Mua khi đến hạn;

1.3.2. nếu Bên Mua không thanh toán Khoản Phải Thu cho Bên Mua Nợ khi đến hạn thì Bên Mua Nợ sẽ có quyền yêu cầu Bên Bán trả lại Giá Mua Nợ đã ứng trước cộng với tiền lãi; và

1.3.3. khoảng thời gian kể từ khi ứng trước Giá Mua Nợ cho đến khi hoàn trả Giá Mua Nợ là dưới một năm.

Khả năng mất thứ tự ưu tiên khi đăng ký lại biện pháp bảo đảm đối với chứng khoán niêm yết tại Trung Tâm Lưu Ký Chứng Khoán Việt Nam

Từ ngày 1 tháng 1 năm 2021, Nghị Định 155/2020 yêu cầu các biện pháp bảo đảm (ví dụ: thế chấp) đối với chứng khoán đã niêm yết phải được đăng ký với Tổng Công Ty Lưu Ký Và Bù Trừ Chứng Khoán Việt Nam (VSD). Do biện pháp bảo đảm đối với chứng khoán chưa niêm yết được đăng ký tại Cơ Quan Đăng Ký Quốc Gia Về Giao Dịch Bảo Đảm (NRAST), nên nhiều khả năng khi chứng khoán chưa niêm yết được thực hiện niêm yết, thì sẽ phải đăng ký lại biện pháp bảo đảm với VSD. Tuy nhiên, việc đăng ký lại như vậy có thể làm mất thứ tự ưu tiên của các biện pháp bảo đảm liên quan.

Khoản vay nước ngoài dưới hình thức nhập khẩu hàng hóa trả chậm

Theo Thông Tư 03 của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam ngày 26 tháng 02 năm 2016 hướng dẫn một số nội dung về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp, như được sửa đổi (Thông Tư 03/2016), nhập khẩu hàng hóa trả chậm là một trong các hình thức vay nước ngoài (“khoản vay nước ngoài dưới hình thức nhập khẩu hàng hóa trả chậm”).

Định nghĩa

Khoản vay nước ngoài dưới hình thức nhập khẩu hàng hóa trả chậm được định nghĩa là khoản nhập khẩu hàng hóa có ngày rút vốn đầu tiên trước ngày thanh toán cuối cùng, trong đó,

· Ngày rút vốn là (i) ngày thứ bốn mươi lăm kể từ ngày hoàn thành kiểm tra ghi trên tờ khai hải quan trong trường hợp ngân hàng của bên vay không yêu cầu bộ chứng từ thanh toán phải có chứng từ vận tải; hoặc (ii) ngày thứ chín mươi kể từ ngày phát hành chứng từ vận tải trong trường hợp ngân hàng của bên vay yêu cầu bộ chứng từ thanh toán phải có chứng từ vận tải.

Khả năng áp dụng Luật Phòng, Chống Rửa Tiền (PCRT) của Việt Nam đối với các tổ chức tài chính nước ngoài

Theo Luật PCRT 2012, một chủ thể sẽ phải tuân thủ yêu cầu thực hiện quy trình Nhận Biết Khách Hàng (KYC) hoặc nộp các báo cáo về PCRT cho NHNN nếu chủ thể đó, bên cạnh các chủ thể khác, là một tổ chức tài chính “được cấp giấy phép” để thực hiện một hoặc một số dịch vụ hoặc hoạt động tài chính. Trong Luật PCRT 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành, không rõ thuật ngữ “được cấp giấy phép” ở trên dùng để chỉ các tổ chức tài chính được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp giấy phép, hay cũng bao gồm cả tổ chức tài chính nước ngoài được cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cấp giấy phép. Tuy nhiên, việc giải thích theo cách đầu tiên là hợp lý vì:

· theo pháp luật Việt Nam, một tổ chức chỉ có thể cung cấp dịch vụ tài chính được quy định trong Luật PCRT 2012 tại Việt Nam nếu tổ chức đó có giấy phép từ một cơ quan có thẩm quyền phù hợp của Việt Nam (ví dụ: NHNN, Ủy Ban Chứng Khoán Nhà Nước, Bộ Tài Chính);