BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015 - PHẠM VI ÁP DỤNG KHÔNG RÕ RÀNG

Bộ Luật Dân Sự 2015 (BLDS 2015)  có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2017, có khả năng làm thay đổi đáng kể khung pháp lý của Việt Nam. BLDS 2015 áp dụng cho quan hệ giữa cá nhân và/hoặc pháp nhân được hình thành trên cơ sở (1) bình đẳng, (2) tự do ý chí, (3) độc lập về tài sản và (4) tự chịu trách nhiệm (quan hệ dân sự). Đây là thay đổi đáng kể về phạm vi điều chỉnh của BLDS 2015 so với BLDS 2005 (phạm vi điều chỉnh của BLDS 2005 bao gồm các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động). Có một số vấn đề phát sinh từ sự thay đổi trên:

·         Định nghĩa mới về quan hệ dân sự đòi hỏi một quan hệ dân sự phải đáp ứng cả bốn yếu tố trên. Nếu một quan hệ dân sự thiếu đi bất kỳ yếu tố nào trong bốn yếu tố thì có khả năng quan hệ đó sẽ không thuộc phạm vi điều chỉnh của BLDS 2015. Có vẻ như định nghĩa mới không được hợp lý vì BLDS 2015 chứa đựng nhiều điều khoản về các giao dịch dân sự không đầy đủ bốn yếu tố trên (ví dụ giao dịch vô hiệu do bị lừa dối hoặc cưỡng ép); và

·         Không rõ liệu Bộ Luật Dân Sự 2015 sẽ tiếp tục áp dụng cho các quan hệ hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động giống như Bộ Luật Dân Sự 2005 nữa hay không.

Vấn đề trên được đặt ra bởi Tiến sĩ Đỗ Văn Đại trong cuốn sách bình luận khoa học những điểm mới của Bộ Luật Dân Sự 2015. 

VIỆT NAM GIA NHẬP CÔNG ƯỚC LIÊN HỢP QUỐC VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ (CISG)

Tháng 12/2015, Việt Nam đã chính thức phê duyệt và trở thành thành viên thứ 84 của Công ước Viên của Liên Hợp Quốc về Hợp đồng Mua bán Hàng hóa Quốc tế. Công ước Viên bắt đầu có hiệu lực ràng buộc tại Việt Nam từ ngày 1/1/2017. Việt Nam bảo lưu các điều khoản về hình thức của hợp đồng thuộc Điều 11, Điều 29 và Phần II của CISG. Bởi Việt Nam là một nước có các hoạt động kinh doanh sôi động, từ khía cạnh pháp lý, CISG sẽ có tác động lớn đến tất cả các hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế giữa Việt Nam và các quốc gia khác cũng là thành viên của CISG (ví dụ như Nhật Bản, Trung Quốc và Hoa Kỳ).

Về việc áp dụng CISG, trong mối tương quan với luật Thương mại 2005, trong trường hợp các quy định của CISG không phù hợp với các quy định của luật Thương mại 2005, các quy địnhcủa CISG sẽ được ưu tiên áp dụng. Do đó, nếu một hợp đồng mua bán hàng hóa có sự tham gia của một bên Việt Nam và các bên của hợp đồng không thỏa thuận loại trừ CISG một cách rõ ràng thì CISG sẽ được áp dụng. Một điểm quan trọng mà các luật sư hành nghề ở Việt Nam hiện tại cần phải cân nhắc đó là nên loại trừ hay áp dụng các điều khoản của CISG trong các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Ngoài ra, trong trường hợp lựa chọn áp dụng CISG, các bên của hợp đồng cũng nên suy xét về việc lựa chọn bản dịch CISG phù hợp vì CISG có nhiều bản dịch chính thức khác nhau.

 

 

 

 

HẠN CHẾ VỀ NGUYÊN TẮC NGƯỜI MUA PHẢI CẨN TRỌNG (CAVEAT EMPTOR) THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM 2015

Theo Black’s Law Dictionary (tái bản lần thứ 6, trang 152), “Caveat emptor” có nghĩa là “Người mua hàng hãy cẩn trọng” (“Let the buyer aware”). Nói cách khác, người mua hàng phải xem xét, đánh giá, kiểm tra hàng hóa vì lợi ích của mình và phải chịu trách nhiệm về hàng hóa đã nhận và không thể truy đòi người bán nếu sản phẩm bị lỗi hay hư hỏng.

Bộ Luật Dân Sự 2015 về căn bản đã hạn chế nguyên tắc Caveat Emptor ở Việt Nam. Bộ Luật Dân Sự 2015 quy định rằng một bên trước khi giao kết hợp đồng có nghĩa vụ cung cấp thông tin cho bên kia trong trường hợp thông tin đó ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng của bên kia. Bên vi phạm quy định trên mà gây thiệt hại sẽ phải bồi thường thiệt hại cho bên còn lại. Mặt khác, nguyên tắc Caveat Emptor thông thường không yêu cầu bên bán phải cung cấp thông tin về hàng hóa của bên bán cho bên mua trừ khi bên mua yêu cầu cung cấp thông tin đó một cách rõ ràng (ví dụ bằng cách yêu cầu cam đoan trong hợp đồng).

Trước Bộ Luật Dân Sự 2015, Luật Thương Mại 2005 cũng quy định bên bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa phải chịu trách nhiệm về những khiếm khuyết của hàng hóa mà bên mua đã kiểm tra nếu các khiếm khuyết này không thể được phát hiện bằng biện pháp thông thường và bên bán đã biết hoặc phải biết về các khiếm khuyết đó nhưng không thông báo cho bên mua. Hàng hóa, theo Luật Thương Mại 2005, có thể bao gồm nhiều loại tài sản như bất động sản và cổ phiếu, hoặc các loại chứng khoán khác. 

HỢP ĐỒNG TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM (CONSUMER CONTRACTS)

“Người tiêu dùng” được định nghĩa là “người mua hoặc sử dụng hàng hóa và dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức”. Thuật ngữ “người” ở đây được hiểu là cá nhân hoặc tổ chức. Dó đó một tổ chức, theo pháp luật Việt Nam, cũng được coi là người tiêu dùng. Sự khác biệt duy nhất đó là người tiêu dùng sử dụng hàng hóa cho mục đích tiêu dùng. Trong khi đó, đối với một chủ thể kinh doanh, việc mua hàng hóa đầu vào trong quá trình hoạt động để cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho khách hàng được coi là có “mục đích tiêu dùng” hoặc “mục đích kinh doanh”.

Nếu một hợp đồng được giao kết giữa hai chủ thể kinh doanh được xem như hợp đồng tiêu dùng thì những điều khoản sau đây (nếu được quy định trong hợp đồng) sẽ không có hiệu lực:

·         Điều khoản loại trừ trách nhiệm của thương nhân;

·        Điều khoản hạn chế,  hoặc loại trừ quyền khiếu nại, khởi kiện của người tiêu dùng;

·        Điều khoản cho phép thương nhân đơn phương thay đổi điều kiện hợp đồng đã thỏa thuận trước vớingười tiêu dùng; hoặc quy tắc, quy định bán hàng, cung ứng dịch vụ áp dụng đối với người tiêu dùng khi mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ không được thể hiện cụ thể trong hợp đồng;

·         Điều khoản cho phép thương nhận đơn phương xác định người tiêu dùng không thực hiện một hoặc một số nghĩa vụ;

·         Điều khoản cho phép thương nhân quy định hoặc thay đổi giá tại thời điểm giao hàng hóa, cung ứng dịch vụ;

·        Điều khoản cho phép thương nhân giải thích hợp đồng trong trường hợp điều khoản của hợp đồng được hiểu khác nhau;

·        Điều khoản băt buộc người tiêu dùng phải tuân thủ các nghĩa vụ ngay cả khi tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không hoàn thành nghĩa vụ của mình; và

·       Điều khoản cho phép thương nhân chuyển giao quyền và nghĩa vụ cho bên thứ ba mà không có sự chấp thuận của người tiêu dùng.

 Nhiều điều khoản được sử dụng phổ biến trong hợp đồng kinh doanh nhưng lại bị cấm sử dụng trong hợp đồng giao kết với người tiêu dùng. Bởi vậy, việc xác định loại hợp đồng được ký kết giữa các chủ thể kinh doanh là hợp đồng kinh doanh hay hợp đồng tiêu dùng là rất cần thiết.