Đồng Chủ Tịch Trong Một Công Ty Cổ Phần (CTCP) Có Được Cho Phép Theo Pháp Luật Việt Nam?

Theo pháp luật Việt Nam, việc đồng chủ tịch trong một CTCP là không được phép vì vị trí Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị (HĐQT) chỉ được nắm giữ bởi một người:

· Điều 152 của Luật Doanh Nghiệp 2014 quy định rõ ràng rằng HĐQT sẽ bầu một thành viên của HĐQT làm Chủ Tịch, không có ngoại lệ nào có thể được quy định trong điều lệ;

· Các tiêu chuẩn khác nhau của thành viên HĐQT theo Luật Doanh Nghiệp 2014 chỉ ra rằng các thành viên HĐQT cũng như Chủ Tịch HĐQT phải là người tự nhiên (đó là: có trình độ chuyên môn, có kinh nghiệm trong quản lý kinh doanh của công ty). Một đồng chủ tịch không phải là một người tự nhiên như vậy.

Tuy nhiên, có một cơ chế tiềm năng để thiết lập việc đồng chủ tịch. Cụ thể, có thể sửa đổi điều lệ của CTCP để:

· tạo ra một vị trí khác với các quyền giống như của Chủ Tịch (ví dụ: Phó Chủ Tịch);

· yêu cầu rằng Chủ Tịch chỉ được ra các quyết định nếu được Phó Chủ Tịch đồng ý; và

· yêu cầu một số văn bản nhất định phải có chữ ký của cả Chủ Tịch và Phó Chủ Tịch.

Pháp luật điều chỉnh thỏa thuận trọng tài trong trường hợp không được lựa chọn rõ ràng tại Việt Nam

Theo pháp luật Việt Nam, trong trường hợp hợp đồng giữa một bên Việt Nam và một bên nước ngoài (i) lựa chọn pháp luật Việt Nam là pháp luật điều chỉnh cho toàn bộ hợp đồng, (ii) lựa chọn trọng tài nước ngoài làm cơ chế giải quyết tranh chấp, nhưng (iii) không quy định rõ pháp luật điều chỉnh của thỏa thuận trọng tài, có khả năng pháp luật của nước là địa điểm giải quyết tranh chấp (không phải pháp luật Việt Nam) sẽ là pháp luật điều chỉnh thỏa thuận trọng tài đó. Điều này là bởi:

· Tương tự như nguyên tắc về tính độc lập của điều khoản trọng tài đối với hợp đồng chính được chấp nhận rộng rãi trong thông lệ của trọng tài thương mại quốc tế, Luật Trọng Tài Thương Mại 2010 cũng quy định rằng thỏa thuận trọng tài “hoàn toàn độc lập” với hợp đồng chính. Theo đó, pháp luật điều chỉnh hợp đồng chính không nên được mặc định là pháp luật điều chỉnh của thỏa thuận trọng tài. Tuy nhiên, Luật Trọng Tài Thương Mại 2010 không xác định rõ pháp luật nào sẽ là pháp luật điều chỉnh đối với thỏa thuận trọng tài trong trường hợp nói ở phần đầu. Điều này khác với Quan Điểm của hệ thống pháp luật thông luật mà theo đó pháp luật điều chỉnh hợp đồng sẽ là pháp luật điều chỉnh của thỏa thuận trọng tài trừ trường hợp có chứng cứ cho điều ngược lại; và

Tiêu Chí Mới Của Thỏa Thuận Hạn Chế Cạnh Tranh Tại Việt Nam Theo Luật Cạnh Tranh 2018

Luật Cạnh Tranh 2018 định nghĩa một thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là: (a) hành vi thỏa thuận giữa các bên dưới mọi hình thức, và (b) gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh. Theo Điều 3.3 của Luật Cạnh Tranh 2018, tác động hạn chế cạnh tranh là tác động loại trừ, làm giảm, sai lệch hoặc cản trở cạnh tranh trên thị trường. Định nghĩa thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là một điều khoản mới của Luật Cạnh Tranh 2018 mà Luật Cạnh Tranh 2004 không quy định.

Luật Cạnh Tranh 2018 tiếp tục cung cấp một danh sách các thỏa thuận cụ thể có thể được coi là một thỏa thuận hạn chế cạnh tranh giống với Luật Cạnh Tranh 2004. Tuy nhiên, do có định nghĩa mới theo Luật Cạnh Tranh 2018, xét một cách hợp lý, một thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hiện cần phải thỏa mãn hai yếu tố:

Quyết Định mới về khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời tại Việt Nam

Vào ngày 6 tháng 4 năm 2020, Thủ Tướng Chính Phủ đã ban hành một Quyết Định mới (Quyết Định 13/2020) thay thế Quyết Định 11 ngày 11 tháng 4 năm 2017 về khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời tại Việt Nam (Quyết Định 11/2017), đã hết hiệu lực 10 tháng trước. Tóm tắt về một số vấn đề quan trọng của Quyết Định mới này có được xem tại Đây:

Bài viết này được thực hiện bởi Lê Thanh Nhật và Nguyễn Thục Anh.