Bên nhận bảo đảm trong giao dịch bảo đảm có thể khác với bên có quyền theo quy định của pháp luật Việt Nam không?

Theo pháp luật Việt Nam, cách hiểu thông thường là bên có quyền (ví dụ bên cho vay) phải là bên nhận bảo đảm (ví dụ bên nhận thế chấp) trong một giao dịch bảo đảm mặc dù bên bảo đảm (ví dụ bên thế chấp) có thể khác với bên có nghĩa vụ (ví dụ bên vay). Trên thực tế, đây đã là quan điểm theo Nghị định 163/2006 trong nhiều năm. Tuy nhiên, Nghị Định 21/2021 mới thay thế Nghị Định 163/2006 từ ngày 15 tháng 5 năm 2021 đã xóa bỏ mô tả rõ ràng rằng bên có quyền là bên được bảo đảm trong nghĩa vụ được bảo đảm. Không rõ rằng liệu thay đổi này có thể tạo ra khả năng bên nhận bảo đảm không cần phải là bên có quyền trong giao dịch bảo đảm hay không.

Một ví dụ rõ ràng hơn được đưa ra trong bối cảnh của việc phát hành trái phiếu có bảo đảm ra công chúng. Cụ thể, Nghị Định 155/2020 quy định rằng trong trường hợp phát hành trái phiếu có bảo đảm ra công chúng:

Điều lệ mẫu công ty cổ phần tư nhân (theo Luật Doanh Nghiệp 2020)

Các thành viên của Venture North Law đã soạn thảo một dự thảo điều lệ mẫu của công ty cổ phần tư nhân tại Việt Nam theo Luật Doanh Nghiệp mới 2020. Một số điểm cần lưu ý:

·         Dự thảo được soạn thảo với định hướng bảo vệ lợi ích của cổ đông đa số và người quản lý công ty;

·         Dự thảo được soạn thảo cho công ty cổ phần tư nhân đã thành lập và đã góp đủ vốn điều lệ ban đầu;

·         Dự thảo cần được đọc song song với Luật Doanh Nghiệp 2020 vì chúng tôi không chỉ đơn thuần là sao chép các điều khoản của Luật Doanh Nghiệp 2020 vào điều lệ mẫu;

·         Dự thảo có thể có những sai sót và lỗi chính tả; và

·         Bất kỳ bên nào dựa vào dự thảo này sẽ tự chịu rủi ro. Và các tuyên bố miễn trừ trách nhiệm của trang web này cũng được áp dụng.

Dự thảo điều lệ mẫu có thể được tải về tại Đây.

Các vấn đề pháp lý và sự thiếu hụt cơ chế chống bế tắc trong các tranh chấp cổ đông gần đây

Trong vụ tranh chấp cổ đông gây tranh cãi gần đây ở Việt Nam, Toà án phúc thẩm Thành phố Hồ Chí Minh (Toà Phúc Thẩm) cho rằng hai điều sau đây của điều lệ công ty mâu thuẫn với nhau và vì vậy áp dụng quy định của Luật Doanh Nghiệp 2014 để giải quyết tranh chấp:

· Điều 10.1 của điều lệ công ty quy định thành viên có quyền yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp của mình nếu thành viên đó phản đối nghị quyết của Hội Đồng Thành Viên về một số vấn đề quan trọng của công ty; và

· Điều 23.1 của điều lệ công ty yêu cầu sự nhất trí của tất cả các thành viên về một số vấn đề quan trọng của công ty.

Làm thế nào để xác định hai điều khoản của điều công ty được coi là mâu thuẫn với nhau?

1. Ý kiến của Toà Phúc Thẩm khiến chúng tôi tự đặt ra câu hỏi rằng làm thế nào hoặc trong tình huống nào có thể xác định hai điều khoản của một điều lệ công ty hoặc một hợp đồng có thể bị coi là mâu thuẫn với nhau? Pháp luật Việt Nam không có quy tắc về xây dựng hợp đồng có thể trả lời câu hỏi này. Theo cách tiếp cận thông thường, nếu hai điều khoản chỉ ra những thoả thuận hoặc ý định không nhất quán của các bên về cùng một vấn đề, thì chúng có thể được coi là mâu thuẫn với nhau. Theo cách tiếp cận này, Điều 23.1 của điều lệ công ty (nhất trí của tất cả các thành viên về những vấn đề quan trọng) không mâu thuẫn với Điều 10.1 của điều lệ công ty (quyền của thành viên yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp của mình). Các Điều Khoản này xử lý các vấn đề khác nhau trong hai tình huống khác nhau theo một trật thứ tự tuyến tính. Cụ thể: