Sự Thiếu Rõ Ràng Trong Phân Bổ Rủi Ro Đối Với Khuyết Tật Tiềm Ẩn Theo Pháp Luật Việt Nam

Pháp luật Việt Nam hiện nay chưa có định nghĩa chính thức cho khái niệm “khiếm khuyết ẩn”, đồng thời cũng chưa thiết lập cơ chế rõ ràng để phân bổ rủi ro khi các khiếm khuyết đó phát sinh. Khoảng trống pháp lý này thường dẫn đến các tranh chấp kéo dài giữa Chủ Đầu Tư và Nhà Thầu, đặc biệt trong trường hợp hợp đồng xây dựng không có quy định rõ ràng về việc phân bổ rủi ro.

Trong phạm vi phân tích dưới đây, “khiếm khuyết ẩn” được hiểu là những lỗi hoặc khuyết điểm của công trình/hạng mục công trình mà không thể phát hiện được thông qua việc kiểm tra một cách hợp lý và kỹ lưỡng tại thời điểm nghiệm thu, bàn giao.

Theo quan điểm của chúng tôi, khiếm khuyết ẩn có thể phát sinh trong ba tình huống sau:

  • Tình Huống 1: Nhà Thầu đã biết về khiếm khuyết ẩn nhưng cố tình che giấu không thông báo với Chủ Đầu Tư;

  • Tình Huống 2: Nhà Thầu đã không phát hiện ra khiếm khuyết ẩn do vi phạm nghĩa vụ cẩn trọng hoặc trách nhiệm nghề nghiệp (tức là, Nhà Thầu lẽ ra phải biết về khiếm khuyết ẩn); và

  • Tình Huống 3: Khiếm khuyết ẩn nằm ngoài khả năng kỹ thuật của Nhà Thầu để có thể phát hiện tại thời điểm đó, mặc dù Nhà Thầu đã thực hiện đầy đủ và đúng các nghĩa vụ của mình. Đồng thời, Chủ Đầu Tư cũng không thể chứng minh rằng khiếm khuyết ẩn là do lỗi của Nhà Thầu.

Đối với Tình Huống 1 và Tình Huống 2, khả năng yêu cầu bồi thường của Chủ Đầu Tư phụ thuộc đáng kể vào việc chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa khiếm khuyết ẩn và việc thực hiện nghĩa vụ của Nhà Thầu. Trong trường hợp không có đủ bằng chứng cho thấy khiếm khuyết là do lỗi của Nhà Thầu, Chủ Đầu Tư có thể gặp nhiều khó khăn trong việc yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Đối với Tình Huống 3, pháp luật Việt Nam hiện chưa có quy định rõ ràng về việc áp dụng trách nhiệm nghiêm ngặt đối với Nhà Thầu đối với mọi khiếm khuyết, không tính đến yếu tố quan hệ nhân quả. Do đó, yêu cầu của Chủ Đầu Tư liên quan đến trách nhiệm của Nhà Thầu đối với các khiếm khuyết ẩn này (ví dụ như yêu cầu khắc phục, bảo hành hoặc bồi thường thiệt hại) vẫn có thể bị tranh chấp và sẽ cần được Tòa án hoặc Trọng tài xem xét, đánh giá trên cơ sở từng vụ việc cụ thể. Cụ thể,

  • Một mặt, Chủ Đầu Tư có thể dựa vào các nghĩa vụ chung của Nhà Thầu theo quy định pháp luật về bảo đảm chất lượng công trình xây dựng để lập luận rằng Nhà Thầu phải chịu trách nhiệm cuối cùng đối với khiếm khuyết ẩn, bất kể việc có chứng minh được lỗi hay sự bất cẩn hay không; và

  • Mặt khác, Nhà Thầu có thể lập luận rằng mình được miễn trừ trách nhiệm nếu khiếm khuyết ẩn phát sinh không do lỗi của mình hoặc bắt nguồn từ sự kiện bất khả kháng. Lập luận này có thể được xây dựng dựa trên các quy định và cơ sở sau:

    • Theo pháp luật xây dựng, Nhà Thầu được phép từ chối các yêu cầu bảo hành của Chủ Đầu Tư trong trường hợp thiệt hại hoặc khiếm khuyết không xuất phát từ lỗi của Nhà Thầu hoặc phát sinh do sự kiện bất khả kháng theo quy định trong hợp đồng xây dựng;

    • Theo khoản 2 Điều 351 Bộ Luật Dân Sự 2015, một bên được miễn trách nhiệm dân sự đối với hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng nếu việc vi phạm đó là do sự kiện bất khả kháng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Trường hợp hợp đồng không quy định về việc phân bổ rủi ro đối với khiếm khuyết ẩn, Nhà Thầu có thể sẽ lập luận rằng mình không phải chịu trách nhiệm đối với bất kỳ vi phạm nào liên quan đến nghĩa vụ bảo đảm chất lượng, nếu khiếm khuyết ẩn phát sinh từ một sự kiện bất khả kháng không thể lường trước.

Trong bối cảnh khung pháp lý tại Việt Nam về khiếm khuyết ẩn còn chưa rõ ràng, hợp đồng xây dựng đóng vai trò là công cụ trọng yếu để quản trị rủi ro. Để bảo đảm tính công bằng và ổn định pháp lý, các bên trong hợp đồng xây dựng cần chủ động thỏa thuận và quy định rõ ràng về việc phân bổ trách nhiệm cũng như các biện pháp khắc phục đối với từng loại khiếm khuyết ẩn như đã phân tích ở trên.

Bài viết được thực hiện bởi Nguyễn Hoàng Dương.