MUA CỔ PHIẾU TỪ MỘT CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM

Khi mua cổ phiếu niêm yết của một công ty cổ phần đại chúng (CTCP Đại Chúng) từ một cá nhân bán cổ phiếu thông qua tài khoản chứng khoán của người đó, người mua sẽ không phải xác định quyền bán của cá nhân đó đối với số cổ phần đã niêm yết theo Luật Hôn Nhân và Gia Đình 2014 nếu:

·           cổ phiếu niêm yết không phải là nguồn thu nhập chính của người bán và vợ/chồng của người đó (nếu người bán đã kết hôn); và

·           người mua là một người mua ngay tình không biết và không phải biết rằng người bán đã kết hôn hoặc không có quyền bán số cổ phiếu niêm yết đó theo Luật Hôn Nhân và Gia Đình 2014.

Bộ Luật Dân Sự 2015 – Rủi ro cho bên chuẩn bị dự thảo đầu tiên của hợp đồng tại Việt Nam

Điều 404.6 Bộ Luật Dân Sự 2015 quy định, trường hợp bên soạn thảo bổ sung thêm nội dung hợp đồng mà gây bất lợi cho bên kia thì hợp đồng sẽ được giải thích theo hướng có lợi cho bên kia. Quy định này không chỉ áp dụng cho hợp đồng tiêu dùng mà còn áp dụng với các hợp đồng thương mại giữa hai bên đã có kinh nghiệm thương mại (commercially sophisticated party). Theo đó, có rủi ro là bên soạn thảo hợp đồng thương mại có thể phải chịu rủi ro hợp đồng sẽ được giải thích theo hướng có lợi cho bên kia khi phát sinh tranh chấp trong tương lai. Do đó, các bên, khi đàm phán hợp đồng, cần lưu tâm đến điều khoản nào được soạn thảo bởi bên nào trong hợp đồng.

Rất khó để hiểu được lý luận của Điều 404.6 Bộ Luật Dân Sự 2015. Khi một bên đưa vào hợp đồng một điều khoản, túc là bên đó đang hành động để bảo vệ lợi ích của mình trong hợp đồng, và trong nhiều trường hợp, điều khoản đó có thể gây bất lợi đối với bên còn lại. Đây là lý do tại sao các bên cần phải đàm phán với nhau để đạt được thỏa thuận thống nhất. Và thỏa thuận đó có thể là kết quả của quá trình thương lượng, đàm phán phức tạp giữa các bên. Một bên có thể chấp nhận một điều khoản bất lợi đối với mình trong hợp đồng, để đối lại một điều khoản có lợi khác trong hợp đồng. Nếu luật quy định, tòa án hoặc trọng tài giải thích một điều khoản được đưa ra bởi một bên như trên theo hướng có lợi cho bên còn lại thì việc này có thể làm ảnh hưởng đến thỏa thuận của hai bên trong hợp đồng, bởi lẽ các bên không thể chắc chắn rằng, nội dung của hợp đồng sẽ được giải thích theo ý chí thỏa thuận ban đầu của các bên.

Một điều khoản quy định rằng, hợp đồng sẽ không được giải thích theo hướng bất lợi cho bên soạn thảo Hợp đồng trên cơ sở bên đó đã soạn thảo hợp đồng này hoặc bất cứ phần nào của hợp đồng, sẽ giảm thiểu rủi ro phát sinh tại Điều 404.6 của Bộ Luật Dân Sự 2015. Tuy nhiên, dưới sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam, các bên trong hợp đồng có thể cân nhắc thêm vào hợp đồng một điều khoản quy định rằng, hợp đồng đã được soạn thảo bởi tất cả các bên và theo đó Điều 404.6 Bộ Luật Dân Sự 2015 sẽ không áp dụng cho việc giải thích hợp đồng.

 

 

ĐIỂM MỚI VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI HỢP ĐỒNG CÓ YÊU TỐ NƯỚC NGOÀI

Bộ Luật Dân Sự 2015 có hiệu lực từ ngày 1/1/2017 đã đưa ra nguyên tắc mới về lựa chọn luật áp dụng đối với hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài, đặc biệt với hợp đồng có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài. Theo đó, các bên trong hợp đồng sẽ có quyền thỏa thuận lựa chọn pháp luật nước ngoài là pháp luật áp dụng đối với hợp đồng, ngoại trừ các trường hợp sau đây:

·         Hậu quả của việc áp dụng pháp luật nước ngoài trái với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam. Bộ Luật Dân Sự 2015 đưa ra một số nguyên tắc cơ bản của Pháp Luật Dân Sự Việt Nam, những nguyên tắc này được coi là một phần trong số các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam;

·         Không xác định được nội dung của pháp luật nước ngoài mặc dù đã áp dụng các biện pháp cần thiết theo quy định của pháp luật tố tụng (hoặc các nguyên tắc tố tụng khác). Không rõ liệu quy định này có hạn chế việc tìm kiếm các nguồn luật nước ngoài hoặc áp dụng cho việc giải thích pháp luật nước ngoài hay không. Mặt khác, theo Bộ Luật Dân Sự 2015, trường hợp pháp luật nước ngoài được áp dụng nhưng có cách hiểu khác nhau thì việc áp dụng phải theo sự giải thích của cơ quan có thẩm quyền tại nước đó. Như vậy, nếu một luật sư nước ngoài cung cấp và giải thích bằng chứng dựa trên cơ sở pháp luật nước ngoài sẽ có khả năng không được chấp nhận ở Việt Nam;

·         Hợp đồng liên quan đến việc chuyển giao quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là bất động sản, thuê bất động sản hoặc việc sử dụng bất động sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì pháp luật áp dụng là pháp luật Việt Nam nếu bất động sản đó được đặt tại Việt Nam;

·         Hợp đồng lao động hoặc Hợp đồng giao kết với người tiêu dùng áp dụng pháp luật Việt Nam trong trường hợp pháp luật nước ngoài do các bên lựa chọn ảnh hưởng đến quyền lợi tối thiểu của người lao động, người tiêu dùng theo quy định của pháp luật Việt Nam;

·         Các bên có thể thỏa thuận thay đổi pháp luật áp dụng đối với hợp đồng nhưng việc thay đổi đó không được ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba được hưởng trước khi thay đổi pháp luật áp dụng, trừ trường hợp người thứ ba đồng ý. Bộ Luật Dân Sự 2015 không giải thích thế nào là “người thứ ba được hưởng”. Điều này dẫn đến những cách hiểu không rõ ràng là bên thứ ba được hưởng có thể là bất kỳ cá nhân nào hay phải là bên được chỉ định cụ thể trong hợp đồng.

Ngoài ra, Bộ Luật Dân Sự 2015 cũng đã quy định về trường hợp “pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng.” Theo đó, trong trường hợp các bên không có thỏa thuận về pháp luật áp dụng thì pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với với hợp đồng sẽ được áp dụng.

BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015 - PHẠM VI ÁP DỤNG KHÔNG RÕ RÀNG

Bộ Luật Dân Sự 2015 (BLDS 2015)  có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2017, có khả năng làm thay đổi đáng kể khung pháp lý của Việt Nam. BLDS 2015 áp dụng cho quan hệ giữa cá nhân và/hoặc pháp nhân được hình thành trên cơ sở (1) bình đẳng, (2) tự do ý chí, (3) độc lập về tài sản và (4) tự chịu trách nhiệm (quan hệ dân sự). Đây là thay đổi đáng kể về phạm vi điều chỉnh của BLDS 2015 so với BLDS 2005 (phạm vi điều chỉnh của BLDS 2005 bao gồm các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động). Có một số vấn đề phát sinh từ sự thay đổi trên:

·         Định nghĩa mới về quan hệ dân sự đòi hỏi một quan hệ dân sự phải đáp ứng cả bốn yếu tố trên. Nếu một quan hệ dân sự thiếu đi bất kỳ yếu tố nào trong bốn yếu tố thì có khả năng quan hệ đó sẽ không thuộc phạm vi điều chỉnh của BLDS 2015. Có vẻ như định nghĩa mới không được hợp lý vì BLDS 2015 chứa đựng nhiều điều khoản về các giao dịch dân sự không đầy đủ bốn yếu tố trên (ví dụ giao dịch vô hiệu do bị lừa dối hoặc cưỡng ép); và

·         Không rõ liệu Bộ Luật Dân Sự 2015 sẽ tiếp tục áp dụng cho các quan hệ hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động giống như Bộ Luật Dân Sự 2005 nữa hay không.

Vấn đề trên được đặt ra bởi Tiến sĩ Đỗ Văn Đại trong cuốn sách bình luận khoa học những điểm mới của Bộ Luật Dân Sự 2015.