CẬP NHẬT CÁC QUY ĐỊNH VỀ THOÁI VỐN NHÀ NƯỚC TRONG CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM CÓ VỐN NHÀ NƯỚC

Trong Quyết định 58/2016, Thủ tướng chính phủ đã “thúc” thoái vốn nhà nước tại nhiều doanh nghiệp nhà nước (SOEs) trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Nhìn chung, Quyết định 58/2016 đã  giảm mạnh các ngành mà Nhà nước nắm quyền sở hữu ở mức tối thiểu và quan trọng hơn, công bố danh mục 240 SOEs mà Nhà nước sẽ thoái vốn trong giai đoạn 2016 – 2020. So với Quyết định 37/2014, hiện tại Nhà nước có thể:

  • Bán toàn bộ phần vốn góp của mình trong SOEs hoạt động trong các lĩnh vực (1) Vệ sinh môi trường, thoát nước đô thị hoặc chiếu sáng đô thị; (2) khai thác, sản xuất và cung cấp nước sạch; (3) thăm dò tài nguyên thiên nhiên; (4) sản xuất giống cây trồng hoặc vắcxin; (5) vận chuyển quốc tế và (6) vận tải đường sắt. Trước đó, Nhà nước chỉ có thể bán xuống còn 50% vốn điều lệ của SOEs hoạt động trong các lĩnh vực trên. 
  • Bán xuống còn 50% vốn điều lệ của SOEs hoạt động trong các lĩnh vực (1) sản xuất hóa chất; (2) vận chuyển hàng không; (3) sản xuất thuốc lá điếu, (4) dịch vụ viễn thông, (5) SOEs chiếm thị phần từ 30% trở lên hoạt động trong các lĩnh vực bán buôn gạo, đầu mối nhập khẩu xăng dầu, và (6) kinh doanh bán lẻ điện. Trước đó, Nhà nước chỉ có thể bán xuống còn 65% vốn điều lệ của SOEs hoạt động trong các lĩnh vực trên.
  • Chỉ nắm 100% vốn điều lệ trong SOEs hoạt động trong những lĩnh vực hạ tầng đường sắt mà Nhà nước đầu tư. Quy định này cho thấy đầu tư tư nhân trong ngành hạ tầng đường sắt đang được khuyến khích.
  • Bán lên tới 35% vốn sở hữu trong Vinacomin (Tập đoàn công nghiệp than – khoáng sản Việt Nam), Tổng công ty thăm dò khai thác dầu khí,  và Agribank (ngân hàng có mạng lưới lớn nhất ở Việt Nam).
  • Bán lên tới 50% vốn sở hữu trong Vinachem (nhà sản xuất hóa chất và phân bón lớn nhất Việt Nam), Vinataba (nhà sản xuất thuốc lá lớn nhất Việt Nam), Mobifone và VNPT (nhà cung cấp dịch vụ viễn thông lớn thứ hai và thứ ba), và Vinacafe (nhà sản xuất cà phê lớn).
  • Bán toàn bộ vốn sở hữu trong Tập Đoàn Dầu Khí Việt Nam, Hapro (tổng công ty bán lẻ và thương mại tại Hà Nội), Satra (tổng công ty bán lẻ và thương mại tại thành phố Hồ Chí Minh), ba công ty phát điện lớn của ngành điện Việt Nam, Vinashin, Vincem (nhà sản xuất xi măng), PVOIL (nhà phân phối và nhập khẩu dầu), nhà máy lọc dầu Dung Quất (nhà máy lọc dầu đầu tiên và lớn nhất tại Việt Nam), VTVCab (nhà cung cấp dịch vụ cáp truyền hình có vốn nhà nước), Tổng công ty Sông Đà và Tổng công ty đầu tư phát triển nhà và đô thị (HUD).

Một phần của bài viết này được đóng góp bởi Trần Trọng Linh, thực tập sinh luật tại Venture North Law.

 

 

QUY ĐỊNH KHẮT KHE HƠN VỀ CẤP BẢO LÃNH CHÍNH PHỦ VIỆT NAM

Theo Nghị định 4/2017, Chính phủ Việt Nam đã ban hành những quy định khắt khe hơn đối với việc cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ. Bảo lãnh Chính phủ theo Nghị định 4/2017 là bảo lãnh nhân danh Chính phủ Việt Nam (người bảo lãnh) cấp cho bên cho vay nước ngoài để bảo đảm khoản vay hoặc khoản phát hành trái phiếu được vay hoặc được cấp bởi các công ty ở Việt Nam. Theo đó:

  • Người vay (doanh nghiệp) phải đảm bảo hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu không vượt quá 3 lần theo báo cáo tài chính đã được kiểm toán năm gần nhất với thời điểm thẩm định cấp bảo lãnh chính phủ.
  • Nhóm cổ đông/thành viên sở hữu 65% vốn đầu tư của người vay phải đảm bảo nghĩa vụ trả nợ thay trong trường hợp người vay được bảo lãnh gặp khó khăn trong việc trả nợ. Một điểm rất thú vị ở Nghị định 4/2017 là hiện nay Chính phủ có thể bảo lãnh 100% khoản vay của người vay là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Trước đây, Chính phủ chỉ có thể bảo lãnh một phần của khoản vay theo tỷ lệ số cổ phần Việt Nam trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
  • Chính phủ hiện tại chỉ có thể bảo lãnh tối đa lên đến 50% trên tổng số khoản nợ của dự án (trước đây là 80%). Khoản nợ được bảo đảm có thể tăng lên 70% đối với các dự án quan trọng hoặc khẩn cấp.
  • Trong nhiều dự án, nhà đầu tư phải mua bảo hiểm thanh toán nghĩa vụ thanh toán trả nợ trong trường hợp doanh nghiệp không có đủ nguồn tiền trả nợ. Tuy nhiên, không rõ liệu loại bảo hiểm này có áp dụng cho toàn bộ các khoản vay của nhà đầu tư hay chỉ áp dụng với khoản vay bảo lãnh chính phủ.
  • Phí bảo lãnh tăng từ 1.5% đến 2% trên số dư nợ được bảo lãnh.
  • Một ngân hàng đạt chuẩn phải được chỉ định như ngân hàng phục vụ để hỗ trợ và giám sát việc thực hiện dự án vay vốn được Chính phủ bảo lãnh và quản lý Tài khoản dự án. 

QUY ĐỊNH MỚI VỀ KIỂM SOÁT CUNG CẤP THÔNG TIN QUA BIÊN GIỚI Ở VIỆT NAM

Từ tháng 5/2017, theo Thông tư 28/2016, các trang thông tin điện tử, ứng dụng trên mạng, dịch vụ tìm kiếm và mạng xã hội (các trang thông tin điện tử nước ngoài), mà máy chủ được đặt ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng có lượng truy cập từ người sử dụng tại Việt Nam từ 01 (một) triệu lượt trở lên trong 01 (một) tháng, hoặc có máy chủ đặt tại Việt Nam sẽ phải:

  • thông báo thông tin liên hệ cần thiết cho Bộ Thông tin và Truyền thông (MCI); và
  • theo đề nghị của MCI, gỡ bỏ các thông tin và tin tức được coi là bất hợp pháp theo pháp luật Việt Nam trên các trang thông tin điện tử nước ngoài. Nếu các trang thông tin điện tử nước ngoài không hợp tác với MCI, MCI có thể áp dụng các biện pháp kỹ thuật cần thiết để ngăn chặn các thông tin và tin tức bất hợp pháp được truyền tới người sử dụng Việt Nam.

Các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông Việt Nam phải có các thiết bị kỹ thuật cần thiết để thực hiện lệnh gỡ bỏ hoặc ngăn chặn của MCI trong vòng 3 giờ sau khi nhận lệnh. Thông tư 38/2016 sẽ áp dụng đối với hầu hết các mạng xã hội phổ biến ở Việt Nam như Facebook, Google, và Youtube.

THAY ĐỔI TRONG QUY ĐỊNH VỀ VISA DÀI HẠN ĐỔI VỚI NGƯỚI NƯỚC NGOÀI LÀ GIÁM ĐỐC/NHÀ QUẢN LÝ Ở CÁC CÔNG TY VIỆT NAM

Theo Luật Nhập Cảnh, Xuất Cảnh, Quá Cảnh, Cư Trú của người nước ngoài tại Việt Nam, có hiệu lực từ ngày 1/1/2015, “nhà đầu tư nước ngoài” có thể được cấp visa dài hạn (hoặc thẻ tạm trú) có thời hạn lên đến 5 năm. Tuy nhiên, vấn đề là hầu hết nhà đầu tư nước ngoài ở Việt Nam là các công ty mà không phải là các cá nhân. Về cơ bản, một cá nhân là người đại diện của một công ty nước ngoài không được coi là nhà đầu tư nước ngoài và dó đó sẽ không đủ điều kiện để được cấp visa dài hạn ở Việt Nam. Trước đây, người đại diện của công ty nước ngoài khi đầu tư vào Việt Nam có thể xin cấp loại visa dài hạn áp dụng cho người nước ngoài đến Việt Nam để thực hiện dự án đầu tư. Hiện tại, quy định đó đã không còn hiệu lực. Theo đó, những người nước ngoài là giám đốc/nhà quản lý trong các công ty Việt Nam, đã được cấp loại visa dài hạn áp dụng đối với người đại diện của nhà đầu tư nước ngoài trong các công ty Việt Nam, hiện tại chỉ có thể xin cấp loại visa có thời hạn ngắn hơn (3 năm) áp dụng đối với người nước ngoài là người lao động trong các công tyViệt Nam.