NGHỊ ĐỊNH MỚI VỀ PHÁT HÀNH RIÊNG LẺ TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP CỦA CÁC CÁC CÔNG TY VIỆT NAM

Vào tháng 12 năm 2018, Chính Phủ đã ban hành Nghị Định 163/2018 để thay thế Nghị Định 90/2011 về việc phát hành riêng lẻ trái phiếu doanh nghiệp của các công ty Việt Nam từ tháng 2 năm 2019. Nghị Định 163/2018 đưa ra một số điểm mới quan trọng như sau:

· Để có thể phát hành trái phiếu, một công ty không còn cần phải có lãi trong năm trước khi dự kiến phát hành. Thay vào đó, công ty chỉ cần hoạt động ít nhất một năm và báo cáo tài chính của công ty được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán viên đủ điều kiện. Tổ chức phát hành đã trải qua việc tái cấu trúc nhất định (ví dụ: sáp nhập, chuyển đổi hoặc chia tách) có thể dựa vào lịch sử hoạt động của các công ty liên quan khác để đáp ứng điều kiện hoạt động một năm;

· Giao dịch thứ cấp của trái phiếu phát hành riêng lẻ bị giới hạn trong phạm vi tối đa 100 nhà đầu tư, ngoại trừ các “nhà đầu tư chuyên nghiệp”, trong vòng một năm kể từ ngày phát hành. Hạn chế mới dường như nhắm vào thực tiễn phát hành trái phiếu riêng lẻ ngay từ đầu và sau đó bán lại cho các nhà đầu tư công chúng trên thị trường thứ cấp;

DỰ THẢO SỬA ĐỔI LUẬT CHỨNG KHOÁN 2006 CỦA VIỆT NAM

Bộ Tài Chính vừa công bố dự thảo sửa đổi mới nhất cho Luật Chứng Khoán 2006 ( Https://Tinyurl.Com/Ydc44zyd ), dự kiến sẽ được thông qua vào nửa cuối năm 2019. Dường như bất kỳ luật lớn nào ở Việt Nam sẽ cần phải trải qua những thay đổi lớn trong mỗi 10 năm dù những thay đổi đó có cần thiết hay không. Dự thảo sửa đổi bao gồm những thay đổi lớn sau đây liên quan đến quá trình tăng vốn:

· Việc phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu riêng lẻ giờ đây chỉ có thể được thực hiện cho ít hơn 100 “nhà đầu tư chuyên nghiệp”, một hoặc các “nhà đầu tư chiến lược”. Không có định nghĩa về “nhà đầu tư chiến lược”. Định nghĩa về “nhà đầu tư chuyên nghiệp” được sửa đổi để bao gồm (1) công ty niêm yết có vốn điều lệ từ 1000 tỷ đồng trở lên và (2) cá nhân có giá trị ròng cao (high net-worth individuals) có kinh nghiệm và đủ tiêu chuẩn hành nghề giao dịch chứng khoán.

LUẬT CẠNH TRANH 2018 CỦA VIỆT NAM

Luật Cạnh tranh mới (Luật Cạnh tranh 2018) sẽ có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 7 năm 2019 tại Việt Nam. Một số thay đổi quan trọng của Luật Cạnh Tranh 2018 như sau:

Phạm vi áp dụng rộng hơn: Luật Cạnh tranh 2018 giờ đây sẽ điều chỉnh bất kỳ hoạt động nào bất kể hoạt động đó thực hiện bởi pháp nhân, cá nhân Việt Nam hay nước ngoài gây hoặc có khả năng gây “tác động hạn chế cạnh tranh” đối với thị trường Việt Nam. Tác động hạn chế cạnh tranh có nghĩa là tác động loại trừ, làm giảm, sai lệch hoặc cản trở cạnh tranh trên thị trường. Theo Luật Cạnh Tranh 2018, cơ quan cạnh tranh của Việt Nam sẽ có thẩm quyền rõ ràng để xử lý các hoạt động và giao dịch ngoài lãnh thổ có tác động đến thị trường Việt Nam. Ngoài ra, Luật Cạnh tranh 2018 hiện nay cũng áp dụng cho các đơn vị sự nghiệp công lập như bệnh viện, hoặc trường học vốn về cơ bản không phải là doanh nghiệp.

GIAO DỊCH GIỮA SABECO VÀ THAIBEV – XÁC NHẬN “CHÍNH THỨC” VỀ CẤU TRÚC GIAO DỊCH CHUNG

Giao dịch giữa Sabeco và ThaiBev được CÔNG BỐ vào ngày thứ hai vừa qua (18/12/2017) đã chính thức trở thành giao dịch thâu tóm lớn nhất tại Việt Nam tính tới thời điểm hiện tại. Theo thông tin từ Báo Chí, cấu trúc giao dịch (xem ảnh minh họa dưới đây) có liên quan tới việc Vietnam Beverage thâu tóm 53.59% cổ phần tại Sabeco. Vietnam Beverage được sở hữu toàn bộ bởi CTCP Đầu tư F&B Alliance Việt Nam. Tiếp theo đó, Thai Bev sở hữu gián tiếp 49% vốn của CTCP Đầu tư F&B Alliance Việt Nam. Nhìn nhận về vấn đề này, dường như Thai Bev đang đầu tư vào Sabeco bằng cách thiết lập một nhà đầu tư “nội địa” thông qua nhiều lớp công ty khác nhau.

PHÂN LOẠI NỢ XẤU TẠI VIỆT NAM

Nhà đầu tư nước ngoài quan tâm tới việc đầu tư vào các khoản nợ xấu (Nợ Xấu) tại Việt Nam trước tiên nên biết về các loại Nợ Xấu ở Việt Nam.

Tùy thuộc vào bên cho vay hiện tại, Nợ Xấu có thể được phân loại thành:

·         Nợ Xấu của các tổ chức tín dụng trong nước (Nợ Xấu Ngân Hàng). Nhìn chung, một chủ thể nước ngoài có thể mua và chuyển nhượng các Khoản Vay Ngân Hàng. Khuôn khổ pháp lý cho việc đầu tư vào Nợ Xấu Ngân Hàng đang được phát triển. Có các quy định riêng của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam (NHNN) về chuyển nhượng các khoản vay ngân hàng và mới đây, một nghị quyết đặc biệt của Quốc Hội về việc xử lý Nợ Xấu Ngân Hàng phát sinh trước ngày 15 tháng 8 năm 2017 (Nghị Quyết Nợ Xấu) đã được ban hành. Về lý thuyết, một Khoản Vay Ngân Hàng được chuyển nhượng cho một chủ thể nước ngoài có thể được xem như là khoản vay nước ngoài và phải tuân thủ quy định về khoản vay nước ngoài. Tuy nhiên, NHNN đã chỉ ra rằng, một khoản Nợ Xấu Ngân Hàng được bán cho một chủ thể nước ngoài không được xem như là khoản vay nước ngoài;

CƠ CHẾ PHỐI HỢP TRONG VIỆC XỬ LÝ HỒ SƠ ĐĂNG KÝ ĐẦU TƯ VÀ ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

Thông tư 2/2017 có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 6 năm 2017 quy định về cơ chế phối hợp trong việc giải quyết các hồi sơ đăng ký đầu tư và đăng ký doanh nghiệp của nhà đầu tư nước ngoài (cơ chế phối hợp). Theo đó, khi một nhà đầu tư nước ngoài nộp hồ sơ đăng ký đầu tư và đăng ký doanh nghiệp thì sẽ được cấp giấy chứng nhận đăng ký tại Sở Kế hoạch và Đầu tư nơi thực hiện thủ tục (Sở KHĐT). Vì vậy, các thủ tục đăng ký đầu tư và đăng ký doanh nghiệp theo cơ chế phối hợp này có thể cắt giảm đáng kể khối lượng công việc liên quan đến cấp phép của nhà đầu tư nước ngoài so với các thủ tục đăng ký đầu tư và đăng ký doanh nghiệp riêng rẽ trước đây (thủ tục riêng rẽ).

CẬP NHẬT CÁC QUY ĐỊNH VỀ THOÁI VỐN NHÀ NƯỚC TRONG CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM CÓ VỐN NHÀ NƯỚC

Trong Quyết định 58/2016, Thủ tướng chính phủ đã “thúc” thoái vốn nhà nước tại nhiều doanh nghiệp nhà nước (SOEs) trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Nhìn chung, Quyết định 58/2016 đã  giảm mạnh các ngành mà Nhà nước nắm quyền sở hữu ở mức tối thiểu và quan trọng hơn, công bố danh mục 240 SOEs mà Nhà nước sẽ thoái vốn trong giai đoạn 2016 – 2020. So với Quyết định 37/2014, hiện tại Nhà nước có thể:

  • Bán toàn bộ phần vốn góp của mình trong SOEs hoạt động trong các lĩnh vực (1) Vệ sinh môi trường, thoát nước đô thị hoặc chiếu sáng đô thị; (2) khai thác, sản xuất và cung cấp nước sạch; (3) thăm dò tài nguyên thiên nhiên; (4) sản xuất giống cây trồng hoặc vắcxin; (5) vận chuyển quốc tế và (6) vận tải đường sắt. Trước đó, Nhà nước chỉ có thể bán xuống còn 50% vốn điều lệ của SOEs hoạt động trong các lĩnh vực trên. 
  • Bán xuống còn 50% vốn điều lệ của SOEs hoạt động trong các lĩnh vực (1) sản xuất hóa chất; (2) vận chuyển hàng không; (3) sản xuất thuốc lá điếu, (4) dịch vụ viễn thông, (5) SOEs chiếm thị phần từ 30% trở lên hoạt động trong các lĩnh vực bán buôn gạo, đầu mối nhập khẩu xăng dầu, và (6) kinh doanh bán lẻ điện. Trước đó, Nhà nước chỉ có thể bán xuống còn 65% vốn điều lệ của SOEs hoạt động trong các lĩnh vực trên.
  • Chỉ nắm 100% vốn điều lệ trong SOEs hoạt động trong những lĩnh vực hạ tầng đường sắt mà Nhà nước đầu tư. Quy định này cho thấy đầu tư tư nhân trong ngành hạ tầng đường sắt đang được khuyến khích.
  • Bán lên tới 35% vốn sở hữu trong Vinacomin (Tập đoàn công nghiệp than – khoáng sản Việt Nam), Tổng công ty thăm dò khai thác dầu khí,  và Agribank (ngân hàng có mạng lưới lớn nhất ở Việt Nam).
  • Bán lên tới 50% vốn sở hữu trong Vinachem (nhà sản xuất hóa chất và phân bón lớn nhất Việt Nam), Vinataba (nhà sản xuất thuốc lá lớn nhất Việt Nam), Mobifone và VNPT (nhà cung cấp dịch vụ viễn thông lớn thứ hai và thứ ba), và Vinacafe (nhà sản xuất cà phê lớn).
  • Bán toàn bộ vốn sở hữu trong Tập Đoàn Dầu Khí Việt Nam, Hapro (tổng công ty bán lẻ và thương mại tại Hà Nội), Satra (tổng công ty bán lẻ và thương mại tại thành phố Hồ Chí Minh), ba công ty phát điện lớn của ngành điện Việt Nam, Vinashin, Vincem (nhà sản xuất xi măng), PVOIL (nhà phân phối và nhập khẩu dầu), nhà máy lọc dầu Dung Quất (nhà máy lọc dầu đầu tiên và lớn nhất tại Việt Nam), VTVCab (nhà cung cấp dịch vụ cáp truyền hình có vốn nhà nước), Tổng công ty Sông Đà và Tổng công ty đầu tư phát triển nhà và đô thị (HUD).

Một phần của bài viết này được đóng góp bởi Trần Trọng Linh, thực tập sinh luật tại Venture North Law.

 

 

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ CÓ THỂ ỦY QUYỀN VIỆC BÁN TRỰC TIẾP CỔ PHẦN NHÀ NƯỚC TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN CHƯA NIÊM YẾT?

Theo Nghị định 91/2015 và Công văn số 10791 của Bộ Tài chính (BTC) vào tháng 8/2016, hiện không rõ liệu Thủ tướng có thể ủy quyền việc bán cổ phần Nhà nước trong công ty cổ phần chưa niêm yết cho một nhà đầu tư tư nhân mà không cần tổ chức đấu giá cổ phần công khai trước tiên hay không. Thực tế, nhiều nhà đầu tư (đặc biệt là các nhà đầu tư muốn có quyền kiểm soát hoặc nắm giữ cổ phần chi phối trong công ty cổ phần của Nhà nước) mong muốn có thể thỏa thuận trực tiếp với bên bán hơn là phải trải qua một quá trình đấu giá công khai phức tạp.

Trước đây, Nghị định 71/2013 quy định đối với công ty cổ phần chưa niêm yết (phần lớn thuộc sở hữu của Nhà nước), nếu (1) chỉ có một người mua đăng ký mua cổ phần của Nhà nước hoặc (2) Thủ tướng ủy quyền bằng văn bản thì sau đó bên bán có thể bán cổ phần thông qua đàm phán trực tiếp với các nhà đầu tư". Vì vậy, việc Thủ tướng có thể ủy quyền bán trực tiếp cổ phần nhà nước trong công ty cổ phần chưa niêm yết mà không thông qua đấu giá công khai là khá rõ ràng.

Nghị định 91/2015 thay thế Nghị định 71/2013 cho phép bán cổ phần thông qua đàm phán trực tiếp giữa bên bán (Nhà nước) và các nhà đầu tư trong trường hợp việc bán theo lô bằng cách đấu giá công khai không thành công (trường hợp chỉ có một nhà đầu tư đăng ký mua hoặc Thủ tướng ủy quyền bán bằng văn bản). Những từ ngữ được đặt trong dấu ngoặc dẫn đến các cách hiểu khác nhau:

·         Hướng giải thích đầu tiên là Thủ tướng chỉ có thể cho phép đàm phán trực tiếp để bán cổ phần nhà nước sau khi bán theo lô thông qua đấu giá công khai không thành công. Cách giải thích trên xuất phát từ câu "Thủ tướng Chính phủ ủy quyền bán bằng văn bản” được đặt trong dấu ngoặc đơn. Theo đó, điều này sẽ hạn chế thẩm quyền của Thủ tướng đối với việc ủy quyền bán trực tiếp cổ phần nhà nước trước khi đấu giá công khai; và

·         Hướng giải thích thứ hai cho rằng dấu ngoặc đã được đặt sai vị trí mà đúng ra phải đặt dấu ngoặc sau từ "mua". Điều này được lý giải là vì các từ được đặt trong ngoặc đơn có nhiệm vụ  giải thích nguyên nhân dẫn đến việc tiến hành bán theo lô theo phương thức đấu giá công khai không thành công. Và việc ủy quyền của Thủ tướng không thể dẫn đến thất bại khi tiến hành bán theo lô theo phương thức đấu giá công khai. Hướng giải thích này đồng thời cũng phù hợp với các quy định về bán cổ phần nhà nước theo lô theo Quyết định 41/2015 của Thủ tướng Chính phủ và thực tế ở Việt Nam Thủ tướng thường có nhiều quyền hạn khi xử lý các doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà nước (hoặc bị chi phối bởi phần vốn nhà nước).

Tuy nhiên, mới đây Bộ Tài chính đã trình Công văn lên Thủ tướng Chính phủ, trong đó Bộ Tài chính đã đưa ra giải thích về những điều khoản có liên quan tại Nghị định 91/2015, Bộ Tài chính đã nhiều lần trích dẫn chính xác các từ ngữ của Nghị định 91/2015. Điều này cho thấy Bộ Tài chính không cho rằng vị trí đặt dấu ngoặc thứ hai là lỗi soạn thảo. Nội dung của Công văn cũng cho thấy rằng Thủ tướng không còn quyền hạn một cách rõ ràng như trước để ủy quyền bán trực tiếp cổ phần nhà nước trước khi đấu giá công khai.

Bài viết được đóng góp bởi Mai Chi, một thành viên của VILAF.

 

LÀM RÕ THÊM VỀ VIỆC BÁN CỔ PHẦN NHÀ NƯỚC TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN CHƯA NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM

Theo Công văn số 10791 được ban hành vào tháng 8/2016, Bộ Tài chính (BTC) đã đề xuất với Thủ tướng Chính phủ các bước cụ thể để bán cổ phần nhà nước trong công ty cổ phần chưa niêm yết (bao gồm các công ty chưa đăng ký giao dịch trên sàn Upcom) như sau:

·         Bước 1: Cổ phần nhà nước nên được bán qua đấu giá công khai bán lẻ để bất kỳ nhà đầu tư tham gia nào cũng có thể đăng ký chào mua và đấu giá với bất kỳ số lượng cổ phần nhà nước (tùy thuộc vào yêu cầu đấu giá tối thiểu);

·         Bước 2: Cổ phần nhà nước chưa được bán ở Bước 1 sẽ được đấu giá công khai "bán theo lô", khi đó nhà đầu tư tham gia phải trả giá cho tất cả (nhưng không ít hơn tất cả) số cổ phần Nhà nước đã được đưa vào bán; và

·         Bước 3: Nếu chỉ có một nhà đầu tư tham gia thì cổ phần nhà nước có thể được bán thông qua đàm phán trực tiếp giữa người bán (Nhà nước) và các nhà đầu tư tham gia.

Hiện vẫn chưa rõ về việc Thủ tướng Chính phủ sẽ chấp nhận đề nghị của Bộ Tài chính hay không. Tuy nhiên, đề xuất của Bộ Tài chính có một vài ý nghĩa:

·         Đề xuất của Bộ Tài chính sẽ hợp nhất quá trình tiến hành bán cổ phần theo lô theo Quyết định 41/2015 và bán cổ phần nhà nước nói chung theo Nghị định 91/2015. Cụ thể, Bộ Tài chính đã phản đối đề xuất của Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) về việc bỏ qua Bước 1 (đấu giá bán lẻ công khai) và cổ phần nhà nước thuộc sự quản lý của Bộ Tài chính từ Bước 2;

·         Bộ Tài chính giải thích thuật ngữ chào bán cạnh tranh được sử dụng trong Nghị định 91/2015 có nghĩa là bán đấu giá công khai theo lô; và

·         Có vẻ như quan điểm của Bộ Tài chính là Thủ tướng Chính phủ không thể bỏ qua Bước 1 và Bước 2 khi quyết định bán cổ phần nhà nước trong công ty cổ phần chưa niêm yết. 

 

 

 

TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI QUẢN LÝ CÔNG TY Ở VIỆT NAM - NGUYÊN TẮC SUY ĐOÁN TRONG KINH DOANH

Trong quyền hạn nhất định, người quản lý công ty (Người quản lý) được bảo vệ bởi "Nguyên tắc suy đoán trong kinh doanh", theo đó Người quản lý của một công ty có quyền cho rằng bản thân đã hành động trung thực, cẩn trọng và mẫn cán (act in good faith), và tuyên bố được miễn trách nhiệm cá nhân trừ khi chứng minh được rằng người đó đã gian lận, không trung thực, cẩn trọng và mẫn cán (bad faith) hoặc lạm dụng quyền tự quyết. Nguyên tắc suy đoán trong kinh doanh bảo vệ người quản lý khỏi trách nhiệm pháp lý trong trường hợp cá nhân đó đưa ra quyết định ngay tình theo một cách kỹ lưỡng và cẩn trọng.

Pháp luật Việt Nam không quy định về "Nguyên tắc suy đoán trong kinh doanh" đối với  thành viên Hội đồng quản trị trong công ty cổ phần (CTCP). Tuy nhiên, đối với trường hợp công ty đại chúng, Điều 36.2 trong Điều lệ mẫu của công ty đại chúng quy định "công ty bồi thường cho những người đã, đang hoặc có thể trở thành một bên liên quan trong các vụ khiếu nại, kiện hoặc khởi tố...nếu người đó đã hoặc đang là thành viên của Hội đồng quản trị, cán bộ quản lý ... với điều kiện người đó đã hành động trung thực, cẩn trọng, mẫn cán vì lợi ích hoặc không chống lại lợi ích cao nhất của Công ty, trên cơ sở tuân thủ luật pháp và không có bằng chứng xác nhận rằng người đó đã vi phạm những trách nhiệm của mình." Về mặt câu chữ, Điều 36.2 trong Điều lệ mẫu của công ty đại chúng cho biết rằng Người quản lý của công ty nếu đưa ra một quyết định kinh doanh sai lầm có thể được bảo vệ khỏi trách nhiệm pháp lý nếu người đó chứng minh được rằng đã hành động với trách nhiệm cẩn trọng và trung thực. Quy định này gần giống với nguyên tắc suy đoán trong kinh doanh, ngoại trừ nghĩa vụ chứng minh thuộc về Người quản lý (người phải chứng minh là mình đã hành động với trách nhiệm cẩn trọng và trung thực và tuân thủ luật pháp) mà không phải là nghĩa vụ của công ty. Có thể thấy, Điều 36.2 về Điều lệ mẫu công ty đại chúng có thể được sử dụng trong điều lệ của cả công ty đại chúng và công ty cổ phần không phải là đại chúng để quy định nguyên tắc phán đoán trong kinh doanh với mục đích bảo vệ các thành viên Hội đồng quản trị của một CTCP.

 

 

 

CHUYỂN NHƯỢNG CỔ PHẦN CỦA CÔNG TY ĐẠI CHÚNG CHƯA ĐĂNG KÝ LƯU KÝ CHỨNG KHOÁN VỚI VSD TẠI VIỆT NAM

Theo quy định của Luật Chứng khoán 2006, cổ phần được phát hành bởi công ty cổ phần đại chúng (Public JSC) phải được đăng ký tại Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam (VSD). Nếu cổ phần của một Public JSC được đăng ký tại VSD thì việc chuyển nhượng cổ phần trong Public JSC đó phải được thực hiện thông qua VSD. Quyền sở hữu cổ phần của Public JSC sẽ chỉ được chuyển nhượng sau khi các chi tiết về việc chuyển nhượng được lưu trữ trong hệ thống của VSD.