THÔNG TIN CÓ PHẢI LÀ TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM?

Trong nhiều trường hợp, thông tin (ví dụ như dữ liệu về người sử dụng) quan trọng đối với công việc kinh doanh còn hơn cả các tài sản hữu hình. Điều này dẫn đến một câu hỏi quan trọng về bản chất pháp lý của thông tin trong luật Việt Nam. Theo Bộ Luật Dân sự 2015, tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản. Trừ các quyền sở hữu trí tuệ (bao gồm bí mật thương mại và sưu tập dữ liệu) được công nhận một cách rõ ràng như là một quyền tài sản, luật không nói rõ các loại thông tin mật khác có được coi là tài sản hay không.

Bộ Luật Dân sự 2015 cũng thừa nhận và bảo vệ “các quyền dân sự”. Các quyền dân sự có thể được xác lập dựa trên kết quả của quá trình hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động sản xuất. Theo đó, về mặt lý thuyết, thông tin được tạo ra (hoặc phát sinh) từ hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động sản xuất, có thể sẽ phải tuân theo quyền dân sự của các chủ thể liên quan đã tạo ra chính những thông tin đó. Tuy nhiên, vấn đề được đặt ra là có thể có nhiều hơn một chủ thể tạo ra thông tin.

QUY TRÌNH CẤP PHÉP CHO DỰ ÁN XÂY DỰNG NHÀ Ở TẠI VIỆT NAM

Nhà đầu tư nước ngoài muốn thành lập công ty ở Việt Nam để thực hiện dự án xây dựng nhà ở tại Việt Nam cần thực hiện hai quy trình cấp phép khác nhau, tùy thuộc vào việc dự án đó có cần làm thủ tục đề nghị chấp thuận chủ trương theo pháp luật về đầu tư hay không (Chấp thuận chủ trương đầu tư).

Nếu dự án thuộc trường hợp phải xin Chấp thuận chủ trương đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài cần thực hiện theo các bước sau:

·        Bước 1: Nộp hồ sơ đề nghị Chấp thuận chủ trương đầu tư theo pháp luật về đầu tư, đây đồng thời được xem như chấp thuận chủ trương đầu tư theo pháp luật về nhà ở (Chấp thuận chủ trương đầu tư dự án xây dựng nhà ở);

·        Bước 2: Đăng ký cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư để đăng ký dự án đầu tư (Giấy chứng nhận đầu tư); và

·        Bước 3: Đăng ký cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp để thành lập doanh nghiệp dự án (Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp)

Theo pháp luật về đầu tư, dự án xây dựng nhà ở cần phải xin Chấp thuận chủ trương đầu tư, nếu:

·        Dự án xây dựng nhà ở bao gồm dự án di dân tái định cư từ 10,000 người trở lên ở miền núi và 20,000 người trở lên ở vùng khác;

·        Dự án xây dựng nhà ở có quy mô vốn đầu tư từ 5,000 tỷ đồng trở lên và không thuộc kế hoạch quy hoạch tổng thể; và

·        Dự án xây dựng nhà ở (i) được Nhà nước giao đất, cho thuê đất không thông qua đấu giá, đấu thầu hoặc nhận chuyển nhương, hoặc (ii) dự án có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất; trừ dự án được thực hiện tại khu kinh tế và tuân thủ kế hoạch, quy hoạch tổng thể.

Nếu dự án không thuộc trường hợp phải xin Chấp thuận chủ trương đầu tư,do pháp luật hiện hànhchưa có quy định rõ ràngnên nhà đầu tư nước ngoài có thể thực hiện tương tự theo các bước sau:

·        Bước 1: Đăng ký cấp Giấy chứng nhận đầu tư để đăng ký dự án đầu tư;

·        Bước 2: Đăng ký cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp để thành lập doanh nghiệp dự án; và

·        Bước 3: Nộp hồ sơ đề nghị Chấp thuận chủ trương đầu tư dự án xây dựng nhà ở, nếu được yêu cầu theo quy định của pháp luật về nhà ở. Trên thực tế, nhà đầu tư cần cung cấp các tài liệu để làm  thủ tục đề nghị Chấp thuận chủ trương đầu tư dự án xây dựng nhà ở theo quy định tại Bước 1.

Trường hợp thứ hai (dự án không phải xin Chấp thuận chủ trương đầu tư) thường xảy ra khi nhà đầu tư nước ngoài được cấp quyền sử dụng đất một cách trực tiếp thông qua việc góp vốn từ một đối tác địa phương hoặc mua lại một dự án đầu tư xây dựng nhà ở đang hoạt động từ một chủ công trình ở địa phương.

Trong trường hợp thứ nhất, pháp luật về nhà ở quy định rõ rằng, nếu một dự án xây dựng nhà ở thuộc trường hợp xin Chấp thuận chủ trương đầu tư thì nhà đầu tư không cần phải xin Chấp thuận chủ trương đầu tư dự án xây dựng nhà ở nữa. Tuy nhiên, đối với trường hợp thứ hai, pháp luật về nhà ở không có quy định rõ ràng về việc nhà đầu tư nước ngoài cần phải xin Chấp thuận chủ trương đầu tư dự án xây dựng nhà ở trước hay sau khi được cấp Giấy chứng nhận đầu tư. Bởi vì:

Một mặt, theo pháp luật về nhà ở, chỉ các công ty được thành lập tại Việt Nam mới được thực hiện dự án xây dựng nhà ở. Điều này cho thấy Chấp thuận chủ trương đầu tư xây dựng nhà ở sẽ được cấp sau khi có Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; và

Mặt khác, Điều 9 của Nghị định 99/2015 quy định rằng, cần phải có Chấp thuận chủ trương dự án xây dựng nhà ở trước khi lập dự án đầu tư xây dựng nhà ở. Điều này cho thấy Chấp thuận chủ trương đầu tư dự án xây dựng nhà ở phải được cấp trước khi có Giấy chứng nhận đầu tư.

Cách giải thích thứ nhất có vẻ hợp lý hơn vì cho thấy sự thống nhất với  mục đích của pháp luật về đầu tư, rằng Giấy chứng nhận đầu tư chỉ là điều kiện cần (nhưng không phải là điều kiện đủ) để thực hiện một dự án đầu tư, và sau khi được cấp Giấy chứng nhận đầu tư, nhà đầu tư vẫn cần phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật chuyên ngành (ví dụ như luật nhà ở hoặc pháp luật về nhập khẩu/phân phối đối với các nhà đầu tư nước ngoài). Ngoài ra, việc lập dự án đầu tư xây dựng nhà ở được quy định tại Điều 9 của Nghị định 99/2015 có thể bao gồm việc chuẩn bị hồ sơ dự án theo yêu cầu của luật xây dựng (bao gồm cả việc thẩm định và phê duyệt thiết kế công trình).

Bài viết được đóng góp bởi Nguyễn Bích Ngọc - luật sư cộng sự tại Venture North Law.

XÁC THỰC THÔNG TIN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG THỜI GIAN THỬ VIỆC TẠI VIỆT NAM

Theo quy định của Bộ Luật Lao Động 2012, người sử dụng lao động và người lao động có thể có thỏa thuận về việc làm thử, quyền và nghĩa vụ của các bên trong thời gian thử việc. Bên cạnh đó, trước khi ký kết hợp đồng thử việc, người sử dụng lao động có thể yêu cầu người lao động cung cấp các thông tin khác nhau, bao gồm họ tên, tuổi, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, tình trạng sức khoẻ và vấn đề khác “liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động.” Để lựa chọn ra các ứng viên phù hợp với công việc, người sử dụng lao động cũng có thể thỏa thuận với người lao động về việc xác thực các thông tin trên, theo đó người sử dụng lao động sẽ có quyền chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp kết quả xác thực thông tin không chính xác. Chừng nào quy định này còn chưa rõ ràng, vẫn còn có rủi ro cho người sử dụng lao động khi bị xem là đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật. Bởi vì:

  • Bộ Luật Lao Động 2012 chỉ quy định rằng người sử dụng lao động có thể chấm dứt hợp đồng lao động trong thời gian thử việc nếu “việc làm thử” không đạt yêu cầu. Không có định nghĩa rõ ràng về “việc làm thử” theo quy định của luật. Do đó, sẽ có quan điểm cho rằng kết quả xác thực thông tin chính xác không thể coi là việc làm thử vì không bao gồm công việc nào; và
  • Cũng không rõ các thông tin nào sẽ được coi là “thông tin liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động.” Vì vậy, một vài thông tin được yêu cầu bởi người sử dụng lao động (ví dụ: tình trạng hôn nhân, tranh chấp dân sự,…) có thể không được xem là liên quan trực tiếp tới công việc mà người lao động thực hiện.

Mặc dù vậy, quan điểm trên có thể không hợp lý vì:

  • Điều 17.1 của Bộ Luật Lao Động 2012 yêu cầu các bên trong hợp đồng lao động có nghĩa vụ phải trung thực khi giao kết hợp đồng lao động. Người sử dụng lao động tuyển dụng người lao động căn cứ trên các thông tin mà người lao động cung cấp. Do đó, nếu các thông tin đó sau khi được xác thực là không chính xác trong thời gian thử việc, người sử dụng lao động có quyền chấm dứt hợp đồng lao động; và
  • Do người sử dụng lao động là người hiểu rõ nhất về công việc kinh doanh của mình cũng như yêu cầu cho từng vị trí công việc, sẽ là hợp lý khi cho phép người sử dụng lao động có toàn quyền quyết định các thông tin nào liên quan tới việc thực hiện hợp đồng phải được cung cấp chính xác bởi người lao động.

Tuy nhiên, để tránh rủi ro, người sử dụng lao động nên quy định trong hợp đồng lao động rằng kết quả xác thực thông tin chính xác là một trong những điều kiện để xác định việc làm thử đạt yêu cầu.

Bài viết được đóng góp bởi Nguyễn Hoàng Dương - luật sư tập sự tại Venture North Law.

Bộ Luật Dân Sự 2015 – Rủi ro cho bên chuẩn bị dự thảo đầu tiên của hợp đồng tại Việt Nam

Điều 404.6 Bộ Luật Dân Sự 2015 quy định, trường hợp bên soạn thảo bổ sung thêm nội dung hợp đồng mà gây bất lợi cho bên kia thì hợp đồng sẽ được giải thích theo hướng có lợi cho bên kia. Quy định này không chỉ áp dụng cho hợp đồng tiêu dùng mà còn áp dụng với các hợp đồng thương mại giữa hai bên đã có kinh nghiệm thương mại (commercially sophisticated party). Theo đó, có rủi ro là bên soạn thảo hợp đồng thương mại có thể phải chịu rủi ro hợp đồng sẽ được giải thích theo hướng có lợi cho bên kia khi phát sinh tranh chấp trong tương lai. Do đó, các bên, khi đàm phán hợp đồng, cần lưu tâm đến điều khoản nào được soạn thảo bởi bên nào trong hợp đồng.

Rất khó để hiểu được lý luận của Điều 404.6 Bộ Luật Dân Sự 2015. Khi một bên đưa vào hợp đồng một điều khoản, túc là bên đó đang hành động để bảo vệ lợi ích của mình trong hợp đồng, và trong nhiều trường hợp, điều khoản đó có thể gây bất lợi đối với bên còn lại. Đây là lý do tại sao các bên cần phải đàm phán với nhau để đạt được thỏa thuận thống nhất. Và thỏa thuận đó có thể là kết quả của quá trình thương lượng, đàm phán phức tạp giữa các bên. Một bên có thể chấp nhận một điều khoản bất lợi đối với mình trong hợp đồng, để đối lại một điều khoản có lợi khác trong hợp đồng. Nếu luật quy định, tòa án hoặc trọng tài giải thích một điều khoản được đưa ra bởi một bên như trên theo hướng có lợi cho bên còn lại thì việc này có thể làm ảnh hưởng đến thỏa thuận của hai bên trong hợp đồng, bởi lẽ các bên không thể chắc chắn rằng, nội dung của hợp đồng sẽ được giải thích theo ý chí thỏa thuận ban đầu của các bên.

Một điều khoản quy định rằng, hợp đồng sẽ không được giải thích theo hướng bất lợi cho bên soạn thảo Hợp đồng trên cơ sở bên đó đã soạn thảo hợp đồng này hoặc bất cứ phần nào của hợp đồng, sẽ giảm thiểu rủi ro phát sinh tại Điều 404.6 của Bộ Luật Dân Sự 2015. Tuy nhiên, dưới sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam, các bên trong hợp đồng có thể cân nhắc thêm vào hợp đồng một điều khoản quy định rằng, hợp đồng đã được soạn thảo bởi tất cả các bên và theo đó Điều 404.6 Bộ Luật Dân Sự 2015 sẽ không áp dụng cho việc giải thích hợp đồng.