Thông tư 39/2016 – Quy định mới về hoạt động cho vay của ngân hàng tại Việt Nam

Tháng 12/2016, Ngân hàng Nhà nước (SBV) đã ban hành Thông tư 39/2016, thay thế Quyết định 1627/2001, về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhành ngân hàng nước ngoài ở Việt Nam. Thông tư 39/2016 có nhiều điểm mới quan trọng. Cụ thể:

  • Để chấm dứt hợp đồng cho vay và thu hồi nợ trước hạn, ngân hàng phải chứng minh bên vay đã cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm quy định trong thỏa thuận cho vay và/hoặc hợp đồng bảo đảm tiền vay. Trong khi chờ đợi những hướng dẫn chi tiết từ SBV, quy định này có vẻ đã hạn chế khả năng thu hồi nợ của ngân hàng trong trường hợp đòi nợ trước hạn theo hợp đồng vay. Ví dụ, trường hợp vi phạm xuất phát từ bên thứ ba (bên bảo lãnh) có thể không thỏa mãn điều kiện thu hồi nợ mới.
  • Để thống nhất với Bộ Luật Dân Sự 2015, hiện tại chỉ cá nhân hoặc pháp nhân có thể vay vốn ngân hàng tại Việt Nam. Các loại tổ chức khác (ví dụ, doanh nghiệp tư nhân hoặc Quỹ Đầu Tư (nếu không có tư cách pháp nhân) sẽ không được phép vay ngân hàng. Trước đây, các tổ chức này vẫn được phép vay ngân hàng.
  • Lãi suất trên khoản vay của ngân hàng được tính trên cơ sở một năm có 365 ngày thay vì 360 ngày như trước đó. Quy định này có thể gây ra những khó khăn nhất định về mặt kỹ thuật cho ngân hàng trong việc điều chỉnh hệ thống phần mềm nội bộ.
  • Một khoản vay cần có mục đích sử dụng vốn.
  • Thông tư 39/2016 hướng dẫn chi tiết việc áp dụng các quy đinh cho vay. Cụ thể, Các hoạt động cho vay cụ thể được quy định tại văn bản riêng của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, thì thực hiện theo quy định tại văn bản riêng của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Thông tư 39/2016 sẽ được áp dụng nếu Thông tư 39/2016 được dẫn chiếu trong các văn bản riêng hoặc nếu các văn bản riêng không có quy định. Quy định này trao cho SBV và Thủ tướng quyền quyết định những thỏa thuận cho vay không thuộc Thông tư 39/2016.
  • Thông tư 39/2016 quy định, ngân hàng phải tuân thủ pháp luật về bảo vệ môi trường khi gia hạn khoản nợ cho bên vay. Tuy nhiên, các quy định về môi trường lại không có bất kỳ hạn chế nào đối với hoạt động tài chính.
  • Hiện tại, chỉ có trường hợp kéo dài kỳ hạn trả nợ được coi là cơ cấu lại nợ. Theo Quyết định 1627/2001, rút ngắn kỳ hạn trả nợ cũng được coi là cơ cấu lại nợ.
  • Việc thực hiện tái cấp vốn đối với một số loại khoản vay đã được cho phép (ví dụ, tái cấp vốn khoản vay vay tại một ngân hàng khác hoặc tái cấp vốn khoản vay để thanh toán lãi tiền vay phát sinh trong quá trình thi công xây dựng công trình).
  • Thông tư 39/2016 cấm hoạt động vay vốn đối với các hoạt động đầu tư, giao dịch, các hoạt động, hàng hóa và dịch vụ mà pháp luật cấm. Phạm vi cấm của quy định này rộng hơn so với Quyết định 1627/2001 (Quyết định 1627 chỉ cấm tài sản hoặc giao dịch).
  • Theo Thông tư 39/2016, đồng tiền trả nợ phải là đồng tiền cho vay của khoản vay.
  • Thông tư 39/2016 dường như đã giới hạn các loại phí mà tổ chức tín dụng có thể thu từ khách hàng. Các loại phí được áp dụng bao gồm (i) Phí trả nợ trước hạn trong trường hợp khách hàng trả nợ trước hạn; (ii) Phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng; (iii) Phí thu xếp cho vay hợp vốn; (iv) Phí cam kết và (v) các loại phí khác liên quan đến hoạt động vay nợ được quy định cụ thể trong các văn bản luật liên quan. Tuy nhiên, phí cam kết chỉ thanh toán từ thời điểm thỏa thuận cho vay có hiệu lực đến ngày giải ngân vốn vay lần đầu. Quy định này có thể gây khó khăn cho ngân hàng vì, theo như quy định này, bên vay có thể rút ngay một phần nhỏ vốn vay trong hợp đồng để tránh việc phải trả phí cam kết.
  • Ngân hàng chỉ có 10 ngày kể từ ngày đến kỳ hạn, để quyết định việc cơ cấu lại khoản nợ (ví dụ gia hạn khoản nợ).
  • Hợp đồng cho vay được lập bằng tiếng Việt hoặc đồng thời bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài. Các văn bản liên quan khác có thể sử dụng tiếng nước ngoài nhưng phải được dịch sang tiếng Việt và phải có xác nhận bản dịch theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
  • Thông tư 39/2016 cho phép thực hiện vay tuần hoàn hoặc các loại vay quay vòng khác. Tuy nhiên, Thông tư 39/2016 không cho phép ngân hàng cung cấp các loại khoản vay chưa được Thông tư 39/2016 dự tính. Trước đó, Quyết định 1627/2001 cho phép ngân hàng cung cấp các khoản vay mà pháp luật không cấm.
  • Khoản vay quy định rõ lãi suất theo tỷ lệ phần trăm. Yêu cầu này dường như đã hạn chế những khoản vay được tính lãi suất dựa trên số tuyệt đối.
  • Thông tư 39/2016 cho phép ngân hàng tính lãi suất (nhưng không vượt quá 10%) đối với lãi suất quá hạn. Tuy nhiên, không có bất kỳ chế tài nào được đặt ra đối với bên vay nếu bên vay không trả tiền lãi và ngân hàng đã tính lãi đối với khoản lãi quá hạn.
  • Nếu bên vay không trả đầy đủ nợ gốc và lãi tiền vay, ngân hàng thực hiện theo thứ tự nợ gốc thu trước, nợ lãi tiền vay thu sau. Trước đây, ngân hàng thường thu nợ lãi tiền vay trước và sau đó mới đến nợ gốc.
  • Ngân hàng phải xem xét xác định lại hạn mức tín dụng, một năm ít nhất một lần trong thời hạn của khoản vay.

Bài viết được đóng góp bởi Nguyễn Hoàng Duy – Luật sư cộng sự tại Venture North Law.

HẠN CHẾ KHI THUÊ CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG GẮN LIỀN VỚI ĐẤT TRẢ TIỀN THUÊ ĐẤT HẰNG NĂM

Người sử dụng đất được Nhà nước cho thuê trả tiền thuê đất hằng năm không được phép cho thuê nhà và công trình xây dựng gắn liền với đất trừ khi người sử dụng đất đó đăng ký kinh doanh bất động sản theo Luật Kinh Doanh Bất Động Sản 2014.Sẽ là bất hợp lý khi hạn chế quyền cho thuê tài sản của chủ sở hữu trong khi vẫn cho phép bán tài sản đó . Tuy nhiên, lập trường này được thể hiệntrong pháp luật về đất đại hiện hành. Cụ thể:

  • Luật Đất Đai 2013 không quy định, người sử dụng đất thông qua thuê đất trả tiền thuê đất hằng năm có thể cho thuê nhà hoặc công trình xây dựng gắn liền với đất. Trong khi đó, người sử dụng đất với đất thuê trả tiền một lần cho toàn bộ thời gian thuê, có quyền cho thuê nhà và công trình gắn liền với đất;
  • Nghị định 102/2014 quy định, phạt hành chính đối với trường hợp người sử dụng đất cho thuê bất hợp pháp nhà hoặc công trình gắn liền với đất trả tiền thuê đất hàng năm; và
  • Trên thực tế, cơ quan có thẩm quyền, tại ít nhất một tỉnh, đã áp dụng phạt hành chính về vi phạm trên.

Tuy nhiên, vẫn có thể dựa vào Điều 11.1(d) và 11.3(a) Luật Kinh Doanh Bất Động Sản 2014 để lập luận, một chủ thể thuê đất trả tiền thuê đất hằng năm có thể cho thuê bất động sản gắn liền với đất với điều kiện chủ thể đó đáp ứng đủ điều kiện kinh doanh bất động sản. Luật Kinh Doanh Bất Động Sản 2014 cho phép các cá nhân, tổ chức trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thuê đất từ Nhà nước có thể đầu tư xây dựng nhà ở và công trình xây dựng gắn liền với đất để cho thuê. Luật Kinh Doanh Bất Động Sản 2014 không phân biệt giữa đất trả tiền hằng năm và đất thuê trả tiền một lần.

Bài viết được đóng góp bởi Nguyễn Bích Ngọc và một phần dựa trên bản tin BASICO Tuần Luật của công ty luật BASICO.

TIẾN HÀNH THỦ TỤC PHÁ SẢN MÀ KHÔNG CÓ SỰ HỢP TÁC CỦA DOANH NGHIỆP PHÁ SẢN

Theo Luật Phá Sản 2014, về cơ bản, các chủ nợ của một doanh nghiệp phá sản có thể tiến hành thủ tục phá sản để thanh lý tài sản mà không cần có sự hợp tác của doanh nghiệp đó. Tuy nhiên, có những khó khăn nhất định trong quá trình thực hiện thủ tục phá sản. Những khó khăn đó bao gồm:

  • Doanh nghiệp phá sản có thể yêu cầu thương lượng trực tiếp với các chủ nợ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản (chủ nợ nộp đơn yêu cầu). Thời gian thương lượng không quá 20 ngày.
  • Doanh nghiệp phá sản có thể từ chối cung cấp các tài liệu và thông tin cần thiết  cho việc thực hiện thủ tục phá sản. Ví dụ, doanh nghiệp phá sản có thể từ chối cung cấp các tài liệu cần thiết để chủ nợ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản cho tòa án hoặc thực hiện kiểm kê tài sản doanh nghiệp. Luật Phá Sản 2014 không quy định thủ tục cụ thể yêu cầu doanh nghiệp phá sản phải có trách nhiệm cung cấp tài liệu và thông tin cần thiết.
  • Doanh nghiệp phá sản có thể từ chối tham gia hội nghị chủ nợ. Luật Phá Sản 2014 không quy định doanh nghiệp phá sản phải tham gia hội nghị chủ nợ. Vì vậy, sự tham gia của doanh nghiệp phá sản không cản trợ hội nghị chủ nợ diễn ra.
  • Doanh nghiệp phá sản được phép tiếp tục hoạt động kinh doanh dưới sự giám sát củaQuản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản và tuân thủ một số hạn chế nhất định.Điều này cho thấy rằng việc giám sát của các chủ thể trên có thể bảo đảm lợi ích của các chủ nợ.
  • Không có sự ưu tiên về quyền lợi giữa khoản nợ của cổ đông với khoản nợ của các chủ nợ trong doanh nghiệp phá sản. Do đó, có rủi ro là cổ đông của doanh nghiệp phá sản sẽ có quan điểm khác với các chủ nợ khác và gây trở ngại cho thủ tục phá sản.
  • Doanh nghiệp phá sản có thể khiếu nại quyết định tại Hội nghị chủ nợ. 

HIỆU LỰC CỦA CHỨNG TỪ ĐIỆN TỬ DẠNG PDF HOẶC DẠNG FAX

Theo Luật giao dịch điện tử 2005, chứng từ điện tử dạng pdf hoặc fax  có thểcó giá trị pháp lý như văn bản và bản gốc nếu thỏa mãn một số điều kiện cụ thể . Bởi:

  • Theo Luật giao dịch dữ liệu điện tử 2005, thông điệp dữ liệu được định nghĩa là “thông tin được tạo ra, được gửi đi, được nhận và được lưu trữ bằng phương tiện điện tử”. Thông điệp dữ liệu được thể hiện dưới hình thức thư điện tử, fax và các hình thức tương tự khác. Định nghĩa và mô tả của thông điệp dữ liệu bao gồm cả chứng từ điện tử dạng pdf và fax;
  • Thông điệp dữ liệu có thể có giá trị như văn bản nếu thông tin chứa trong thông điệp dữ liệu có thể truy cập và sử dụng được để tham chiếu khi cần thiết. Luật giao dịch điện tử không nêu rõ đối tượng nào truy cập và sử dụng thông điệp dữ liệu thì thông điệp dữ liệu đó sẽ đủ điều kiện để được xem là có giá trị như văn bản. Nếu một khách hàng gửi chỉ dẫn bằng điện tử hoặc fax tới ngân hàng, nhiều khả năng ngân hàng đó sẽ có hệ thống lưu trữ các chỉ dẫn điện tử và fax này để sử dụng và tham chiếu trong tương lai. Tuy nhiên, không phải trường hợp nào khách hàng cũng lưu trữ các chỉ dẫn điện tử hoặc fax; và
  • Theo Luật giao dịch điện tử 2005, thông điệp dữ liệu có giá trị như bản gốc nếu (1) nội dung của thông điệp dữ liệu có thể truy cập và sử dụng dưới dạng hoàn chỉnh khi cần thiết; và (2) nội dung của thông điệp dữ liệu được toàn vẹn kể từ khi được khởi tạo lần đầu tiên dưới dạng một thông điệp dữ liệu hoàn chỉnh. Thông điệp dữ liệu được xem là toàn vẹn khi nội dung đó chưa bị thay đổi, trừ những thay đổi về hình thức phát sinh trong quá trình gửi, lưu trữ hoặc hiển thị thông điệp dữ liệu. Theo đó, để sử dụng chứng từ điện tử hoặc fax như một văn bản gốc, các bên liên quan phải chứng minh được chứng từ điện tử hoặc fax đó chưa bị sửa đổi trong quá trình truyền phát từ hệ thống của bên này sang hệ thống của bên kia. Rất khó để chứng minh được việc này nếu không có một cơ chế cụ thể giữa các bên nhằm xác thực lại  nội dung của chứng từ điện tử dạng pdf hoặc fax được gửi đến so với nội dung trong chứng từ điện tử được gửi đi.