Khả năng áp dụng Luật Phòng, Chống Rửa Tiền (PCRT) của Việt Nam đối với các tổ chức tài chính nước ngoài

Theo Luật PCRT 2012, một chủ thể sẽ phải tuân thủ yêu cầu thực hiện quy trình Nhận Biết Khách Hàng (KYC) hoặc nộp các báo cáo về PCRT cho NHNN nếu chủ thể đó, bên cạnh các chủ thể khác, là một tổ chức tài chính “được cấp giấy phép” để thực hiện một hoặc một số dịch vụ hoặc hoạt động tài chính. Trong Luật PCRT 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành, không rõ thuật ngữ “được cấp giấy phép” ở trên dùng để chỉ các tổ chức tài chính được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp giấy phép, hay cũng bao gồm cả tổ chức tài chính nước ngoài được cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cấp giấy phép. Tuy nhiên, việc giải thích theo cách đầu tiên là hợp lý vì:

· theo pháp luật Việt Nam, một tổ chức chỉ có thể cung cấp dịch vụ tài chính được quy định trong Luật PCRT 2012 tại Việt Nam nếu tổ chức đó có giấy phép từ một cơ quan có thẩm quyền phù hợp của Việt Nam (ví dụ: NHNN, Ủy Ban Chứng Khoán Nhà Nước, Bộ Tài Chính);

Dự thảo Nghị Định Mới về Bảo Vệ Dữ Liệu Cá Nhân tại Việt Nam

Ngày 9 tháng 2 năm 2021, Bộ Công An đã ban hành dự thảo Nghị định về bảo vệ dữ liệu cá nhân (Dự Thảo Nghị Định). Nghị định này sau khi được ban hành sẽ là đạo luật toàn diện đầu tiên của Việt Nam về dữ liệu cá nhân. Blog này sẽ phân tích một số điểm chính của Dự Thảo Nghị Định và so sánh chúng với các điều khoản liên quan theo Quy Định Chung về Bảo Bệ Dữ Liệu (GDPR).[1] Bài viết do Nguyễn Thu Giang thực hiện và Nguyễn Quang Vũ biên tập.

1) Phạm vi áp dụng

a) Trong khi GDPR liệt kê các trường hợp không thuộc phạm vi điều chỉnh của GDPR, Dự Thảo Nghị Định có xu hướng điều chỉnh toàn diện mọi loại hoạt động liên quan đến dữ liệu cá nhân ở Việt Nam, cả về mặt nội dung và lãnh thổ.

Luật nước ngoài là luật điều chỉnh hợp đồng giữa các công ty có sở hữu nước ngoài tại Việt Nam

Đối với hợp đồng giữa một công ty có sở hữu nước ngoài (tức là công ty do nhà đầu tư nước ngoài sở hữu và kiểm soát) và các công ty khác tại Việt Nam, quan điểm mặc định là pháp luật Việt Nam là luật điều chỉnh hợp đồng đó. Tuy nhiên, có một số lập luận hoặc cơ chế nhất định cho phép các bên lựa chọn pháp luật nước ngoài (ví dụ: luật Anh) làm luật điều chỉnh các hợp đồng đó. Các lập luận hoặc cơ chế này có thể quan trọng nếu công ty có sở hữu nước ngoài có kế hoạch huy động tài chính bao gồm cả khoản vay không truy đòi từ các bên cho vay nước ngoài dựa trên dòng tiền tạo ra từ các hợp đồng đó (ví dụ: hợp đồng mua bán điện với Tập Đoàn Điện Lực Việt Nam).

Quan điểm mặc định của pháp luật Việt Nam là trong các giao dịch không có “yếu tố nước ngoài” (trong trường hợp này là hợp đồng giữa công ty có sở hữu nước ngoài và các công ty khác tại Việt Nam), các bên không được phép lựa chọn luật nước ngoài làm luật điều chỉnh cho các giao dịch đó. Theo đó, có vẻ như mặc định luật áp dụng cho các giao dịch trong nước như vậy sẽ là luật Việt Nam.

Khái niệm về người lao động, hợp đồng lao động và người làm việc không có quan hệ lao động theo pháp luật lao động Việt Nam

Bộ Luật Lao Động 2019 đã mở rộng đáng kể phạm vi áp dụng bằng cách mở rộng định nghĩa về người lao động, hợp đồng lao động và đưa ra khái niệm mới về người làm việc không có quan hệ lao động. Những thay đổi này có thể có tác động đáng kể đến nhiều cá nhân, bao gồm cả những người lao động tự do (gig workers). [a1]

Người lao động

Theo Bộ Luật Lao Động 2019, người lao động là người làm việc cho người sử dụng lao động theo một thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành và giám sát của người sử dụng lao động. Mặt khác, Bộ Luật Lao Động 2012 định nghĩa người lao động là người làm việc theo “hợp đồng lao động”. Do đó, theo Bộ Luật Lao Động 2012, một cá nhân làm việc cho công ty theo hợp đồng không có tên là “hợp đồng lao động” có thể lập luận rằng mình không phải là người lao động của công ty. Tuy nhiên, lập luận như vậy có thể không áp dụng được theo Bộ Luật Lao Động 2019 nếu có thể xác định được rằng có sự thỏa thuận giữa công ty và cá nhân và cá nhân đó bị công ty quản lý, điều hành và giám sát.