Điểm mới trong Luật Giao dịch điện tử có thể ảnh hưởng như thế nào đến việc ký kết hợp đồng bằng cách trao đổi bản pdf tại Việt Nam?

Trong bối cảnh hiện đại, việc kí kết hợp đồng thông qua việc tạo ra những bản hợp đồng đã thỏa thuận dưới dạng pdf và trao đổi giữa các bên liên quan thay vì kí và trao đổi các bản tài liệu giấy ngày càng phổ biến. Trước đây, Luật Giao dịch điện tử 2005 cho phép các bên có sự linh hoạt đáng kể trong việc thỏa thuận về các hình thức ký hợp đồng thông qua việc tạo và trao đổi các bản sao pdf. Tuy nhiên, kể từ ngày 1 tháng 7 năm 2024, một số quy định mới của Luật Giao Dịch Điện Tử năm 2023 (Luật GDĐT 2023) có thể ảnh hưởng đến cách thức các bên kí hợp đồng thông qua việc tạo và trao đổi các bản pdf của hợp đồng đã thỏa thuận. Cụ thể,

Chữ ký điện tử của cá nhân theo Luật Giao Dịch Điện Tử 2023

Vào ngày 22/6/2023, Quốc Hội đã thông qua Luật Giao Dịch Điện Tử mới, có hiệu lực từ ngày 1/7/2024 (Luật GDĐT 2023). Luật GDĐT 2023 đưa ra những thay đổi đáng kể liên quan đến việc sử dụng chữ ký điện tử của các cá nhân như sau:

1. Hạn chế quyền tạo lập và sử dụng chữ ký điện tử của cá nhân

Luật GDĐT 2023 phân loại chữ ký điện tử thành ba loại như sau, trong đó không có loại nào bao gồm chữ ký điện tử do cá nhân tự tạo lập:

  • chữ ký điện tử chuyên dùng là chữ ký điện tử do các cơ quan, tổ chức tạo lập và sử dụng riêng cho hoạt động của cơ quan, tổ chức đó phù hợp với chức năng, nhiệm vụ;

  • chữ ký số công cộng là chữ ký số được sử dụng trong hoạt động công cộng và được bảo đảm bởi chứng thư chữ ký số công cộng được cấp bởi một nhà cung cấp dịch vụ đủ điều kiện;

  • chữ ký số chuyên dùng công vụ là chữ ký số được sử dụng trong hoạt động công vụ và được bảo đảm bởi chứng thư chữ ký số chuyên dùng công vụ được cấp bởi một nhà cung cấp dịch vụ đủ điều kiện.

Hậu Quả Của Việc Vi Phạm Cam Đoan Và Bảo Đảm Theo Pháp Luật Việt Nam

Giới thiệu

Như đã trình bày chi tiết ở bài viết trước, theo quan điểm của chúng tôi, các cam đoan và bảo đảm (bảo đảm) nên cấu thành nghĩa vụ của người đưa ra các cam đoan và bảo đảm đó theo pháp luật Việt Nam. Các cam đoan và bảo đảm có thể hàm ý nghĩa vụ của người đưa ra chúng (Người Bảo Đảm) đảm bảo rằng các dữ kiện và vấn đề đã nêu là đúng sự thật. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ thử xem xét hậu quả của việc vi phạm các cam đoan và bảo đảm theo pháp luật Việt Nam. Như được bàn luận kỹ hơn bên dưới, tùy thuộc vào ngữ cảnh, việc vi phạm bảo đảm có thể dẫn đến:

Cam đoan và bảo đảm có được coi là nghĩa vụ theo pháp luật Việt Nam không?

Cam đoan và bảo đảm là một nội dung quan trọng cấu thành một hợp đồng. Rất tiếc, luật hợp đồng Việt Nam không có một chế định riêng về cam đoan và bảo đảm. Do đó, điều này làm phát sinh nhiều câu hỏi khác nhau liên quan đến cam đoan và bảo đảm theo luật pháp Việt Nam. Thắc mắc đầu tiên sẽ là liệu các cam đoan và bảo đảm có được coi là nghĩa vụ của người đưa ra các cam đoan và bảo đảm này.