Cấu trúc hợp đồng cho quản lý cấp cao tại Việt Nam - Phần 2

Khi một công ty thuê một quản lý cấp cao, công ty thường muốn (1) thuê người quản lý chỉ trong một thời hạn xác định, và (2) có thể linh hoạt trong việc sa thải người quản lý cấp cao nếu người đó không thể hiện được như kỳ vọng.  Tuy nhiên, theo Bộ Luật Lao Động 2012, một hợp đồng có thời hạn được giới hạn trong ba năm, và để sa thải hoặc thay đổi công việc của một người lao động, người sử dụng lao động phải đáp ứng các điều kiện nghiêm ngặt khác nhau.

Để khắc phục những hạn chế này, người sử dụng lao động có thể nêu rõ trong hợp đồng lao động với người quản lý cấp cao rằng người quản lý cấp cao được tuyển dụng để làm việc cho hai công việc khác nhau. Hai công việc này là:

· Công việc cấp cao mà người lao động được tuyển dụng để thực hiện. Người quản lý cấp cao sẽ được hưởng lương và các lợi ích liên quan đến công việc cấp cao đó; và

Cấu trúc hợp đồng cho Quản lý cấp cao tại Việt Nam - Phần 1

Một hợp đồng lao động tốt cho một vị trí cấp cao, giống như bất kỳ hợp đồng lao động nào khác, là hợp đồng có thể cân bằng giữa nhu cầu của người sử dụng lao động và người lao động. Một nhân viên cấp cao thường tìm kiếm mức lương hấp dẫn, các ưu đãi, lợi ích, trong khi các vấn đề như không cạnh tranh và bảo mật là mối quan tâm chính của người sử dụng lao động. Mặt khác, cả hai bên có thể muốn một số điều tương tự trong hợp đồng lao động, ví dụ, hợp đồng dài hạn (thời hạn xác định hoặc không xác định), khả năng chấm dứt hợp đồng mà không cần lý do, bồi thường cho việc chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, v.v. .

Thật không may là luật lao động Việt Nam có một số hạn chế nhất định hạn chế các bên, đặc biệt là phía người sử dụng lao động trong việc xác lập một hợp đồng lao động có thể phản ánh chính xác nhu cầu thương mại của mình. Điều này là do Bộ Luật Lao Động 2012 được soạn thảo theo hướng có lợi cho phía người lao động do quan điểm của Nhà nước cho rằng người lao động là bên yếu thế hơn trong mối quan hệ lao động.

QUY ĐỊNH MỚI VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

Ngày 15/10/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định 143/2018, quy định chi tiết các nội dung về bảo hiểm xã hội bắt buộc (BHXH) áp dụng đối với lao động nước ngoài theo Luật BHXH năm 2014. Trước khi ban hành Nghị Định 143/2018, Luật BHXH 2014 chỉ quy định rằng người lao động nước ngoài sẽ “được” tham gia chương trình BHXH của Việt Nam từ ngày 1 tháng 1 năm 2018. Trong một thời gian dài, quy định mơ hồ này đã gây ra các vướng mắc về việc liệu việc đóng góp BHXH cho người lao động nước ngoài là bắt buộc hay tự nguyện. Nghị Định 143/2018 giờ đây chính thức xác nhận rằng việc này là bắt buộc. Cụ thể là,

·         Việc đóng BHXH sẽ được áp dụng cho cả người lao động nước ngoài và người sử dụng lao động của họ nếu người lao động nước ngoài: (1) đang làm việc tại Việt Nam theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc hợp đồng lao động có thời hạn từ một năm trở lên với người sử dụng lao động tại Việt Nam; và (2) có (i) giấy phép lao động, hoặc (ii) chứng chỉ hành nghề, hoặc (iii) giấy phép hành nghề do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp;

CÓ PHẢI ĐÓNG BẢO HIỂM XÃ HỘI TRONG THỜI GIAN THỬ VIỆC THEO HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM

Theo Luật Bảo Hiểm Xã Hội 2014, kể từ 1 tháng 1 năm 2018, bất kỳ người lao động làm việc theo hợp đồng lao động từ đủ một tháng đến dưới ba tháng phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc (Yêu Cầu BHXH). Tiền bảo hiểm xã hội được đóng bởi cả người lao động và người sử dụng lao động theo tỷ lệ nhất định, trong đó người sử dụng lao động thường đóng phần nhiều hơn. Tuy nhiên, không rõ là liệu một người lao động làm việc theo hợp đồng thử việc với thời hạn từ đủ 1 tháng tới 2 tháng (Hợp Đồng Thử Việc) có phải tuân thủ Yêu Cầu BHXH. Có nhiều quan điểm khác nhau xoay quanh vấn đề này:

Một mặt, có quan điểm cho rằng không phải đóng bảo hiểm xã hội trong thời gian thử việc bởi vì: