Quy Định Về Thuốc Lá Điện Tử Theo Pháp Luật Việt Nam

Sau nhiều năm tồn tại, vẫn còn tranh cãi liệu thuốc lá điện tử có nên được coi là thuốc lá thực sự hay không. Từ đó, không rõ việc kinh doanh thuốc lá điện tử nên được điều chỉnh như thế nào theo luật pháp Việt Nam.

Theo Luật Phòng Chống Thuốc Lá 2012, thuốc lá được xác định là “sản phẩm được sản xuất từ toàn bộ hoặc một phần nguyên liệu thuốc lá, được chế biến dưới dạng thuốc lá điếu, xì gà, thuốc lá sợi, thuốc lào hoặc các dạng khác”. Cách dùng từ "các dạng khác” có thể bao gồm rất nhiều dạng sản phẩm. Tuy nhiên, từ định nghĩa, điểm mấu chốt khi xác định liệu một sản phẩm có phải là sản phẩm thuốc lá không phải là hình thức, mà là nguyên liệu của nó.

Trong hầu hết các trường hợp, thuốc lá điện tử là những thiết bị dùng pin hoạt động bằng cách làm nóng một dung dịch lỏng (e-liquid/tinh dầu), từ đó hơi được tạo ra. Loại tinh dầu này thường chứa nicotine - một chất kích thích thường được làm từ cây thuốc lá. Trong khi đó, định nghĩa về nguyên liệu thuốc lá theo Luật Phòng Chống Thuốc Lá 2012 bao gồm nhiều dạng lá thuốc lá, sợi thuốc lá, cọng thuốc lá và nguyên liệu thay thế khác được dùng để sản xuất thuốc lá.

DỰ THẢO SỬA ĐỔI CÁC QUY ĐỊNH VỀ KINH DOANH HÀNG MIỄN THUẾ

Bộ Tài Chính mới đây đã công bố dự thảo sửa đổi các quy định hiện hành về hàng miễn thuế theo Nghị Định 167/2016. Dưới đây là một bình luận về dự thảo sửa đổi:

·        Định nghĩa về “hàng hóa tạm nhập khẩu vào Việt Nam” được sửa đổi để bao gồm hàng hóa được nhập khẩu tạm thời từ “các khu phi thuế quan và kho ngoại quan”. Theo quy định hiện hành, không rõ liệu hàng hóa từ các khu phi thuế quan và kho ngoại quan có thể được bán trong các cửa hàng miễn thuế hay không.

·        Túi, bao bì sử dụng cho mục đích đựng hàng miễn thuế giờ đây cũng được coi là hàng miễn thuế.

·        Quy định mới về thủ tục hải quan và giám sát hải quan được bổ sung cho hàng miễn thuế được vận chuyển giữa kho chứa hàng miễn thuế và tàu bay phục vụ bán hàng trên các chuyến bay quốc tế đi và đến Việt Nam trong trường hợp tàu bay nhập cảnh và xuất cảnh ở các sân bay quốc tế khác nhau.

YÊU CẦU NGHIÊM NGẶT HƠN VỀ TRANG WEB VÀ ỨNG DỤNG THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM

Ngày 20/8/2018, Bộ Công Thương (BCT) đã ban hành Thông Tư 21/2018 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông Tư 47 của BCT ngày 05/12/2014 về quản lý trang web thương mại điện tử (Thông tư 47/2014) và Thông tư 59 của BCT ngày 31 tháng 12 năm 2015 về quản lý hoạt động thương mại điện tử thông qua các ứng dụng trên thiết bị di động (Thông tư 59/2015). Dưới đây là một số quy định đáng chú ý của Thông Tư 21/2018.

Liên quan tới Thông tư 47/2014, Thông Tư 21/2018 đã sửa đổi, bổ sung như sau:

·         bãi bỏ danh mục các chủ thể yêu cầu phải thông báo về các trang web mua sắm trực tuyến của mình. Theo đó, Nghị Định 52/2013 yêu cầu mọi thương nhân, tổ chức hoặc cá nhân thiết lập trang web thương mại điện tử phải thông báo các trang web đó tại cổng thông tin của BCT tại www.Online.Gov.Vn. Thông Tư 47/2014 chỉ yêu cầu một số chủ thể nhất định phải thông báo về các trang web này;

YÊU CẦU CẤP GIẤY PHÉP ĐỐI VỚI QUYỀN XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI (FIES) THỰC HIỆN QUYỀN PHÂN PHỐI TẠI VIỆT NAM

Trong một Bài Viết gần đây, chúng tôi đã phân tích khái niệm “bán buôn” và “bán lẻ” với tư cách là hai hình thức hoạt động theo các quy định liên quan đến hoạt động thương mại của các FIE tại Việt Nam. Từ khía cạnh thương mại, các hoạt động “phân phối” nên bao gồm việc mua hoặc nhập khẩu hàng hóa từ các nhà cung cấp để bán cho khách hàng. Vì vậy, nếu một FIE đã đăng ký ngành nghề kinh doanh phân phối (ví dụ, bán buôn hoặc bán lẻ), FIE đó sẽ mặc nhiên có thể nhập khẩu hàng hóa để bán trong trong phạm vi quyền phân phối của mình mà không phải tuân thủ thêm các yêu cầu cấp phép. Tuy nhiên, điều này có thể không hợp lý theo khía cạnh pháp lý bởi lẽ việc mua hàng hóa để bán ở Việt Nam hoặc ở nước ngoài bởi một FIE được phân loại như hình thức mua bán khác và phải được cấp phép trước khi thực hiện. Theo quy định của Việt Nam,