Nhập Khẩu LNG Cho Nhà Máy Điện LNG

1. Căn cứ theo Điều 6 Nghị định 87 của Chính phủ ngày 15 tháng 6 năm 2018 về kinh doanh khí (Nghị Định 87/2018), người nhập khẩu LNG cho mục đích kinh doanh tại Việt Nam phải được Bộ Công Thương cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện thương nhân xuất khẩu, nhập khẩu LNG (Giấy Chứng Nhận Nhập Khẩu) trước khi thực họat động này.

2. Các yêu cầu của Nghị Định 87/2018 có vẻ như được áp dụng cho các chủ thể nhập khẩu LNG cho mục đích kinh doanh tại Việt Nam, chứ không phải cho mục đích sử dụng của chính chủ thể đó, ví dụ như nhà máy điện LNG (Nhà Máy Điện LNG) nhập khẩu LNG để sản xuất điện. Tuy nhiên, nếu Nhà Máy Điện LNG nhập khẩu LNG cho mục đích sử dụng của chính mình, Nhà Máy Điện LNG vẫn nên nộp đơn xin cấp Giấy Chứng Nhận Nhập Khẩu bởi vì (i) hiện không có quy định nào hướng dẫn việc nhập khẩu LNG cho mục đích sử dụng riêng của người nhập khẩu mà không phải kinh doanh, và (ii) các điều kiện cấp Giấy Chứng Nhận Nhập Khẩu nêu trong Nghị Định 87/2018 chủ yếu tập trung vào việc đảm bảo an toàn cho các hoạt động nhập khẩu LNG.

Khoản vay nước ngoài dưới hình thức nhập khẩu hàng hóa trả chậm

Theo Thông Tư 03 của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam ngày 26 tháng 02 năm 2016 hướng dẫn một số nội dung về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp, như được sửa đổi (Thông Tư 03/2016), nhập khẩu hàng hóa trả chậm là một trong các hình thức vay nước ngoài (“khoản vay nước ngoài dưới hình thức nhập khẩu hàng hóa trả chậm”).

Định nghĩa

Khoản vay nước ngoài dưới hình thức nhập khẩu hàng hóa trả chậm được định nghĩa là khoản nhập khẩu hàng hóa có ngày rút vốn đầu tiên trước ngày thanh toán cuối cùng, trong đó,

· Ngày rút vốn là (i) ngày thứ bốn mươi lăm kể từ ngày hoàn thành kiểm tra ghi trên tờ khai hải quan trong trường hợp ngân hàng của bên vay không yêu cầu bộ chứng từ thanh toán phải có chứng từ vận tải; hoặc (ii) ngày thứ chín mươi kể từ ngày phát hành chứng từ vận tải trong trường hợp ngân hàng của bên vay yêu cầu bộ chứng từ thanh toán phải có chứng từ vận tải.

Tài xế Uber có thể được coi là người lao động theo pháp luật Việt Nam hay không?

Tòa án Vương quốc Anh gần đây đã phán quyết rằng một tài xế Uber là Người lao động của Uber theo luật lao động của Vương quốc Anh. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ xem xét việc liệu có thể đưa ra kết luận tương tự theo luật Việt Nam thông qua sử dụng lý lẽ của tòa án Vương quốc Anh. Theo Bộ Luật Lao Động 2019, người lao động là người làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động. Dựa trên định nghĩa về người lao động theo Bộ Luật Lao Động 2019, nhiều khả năng là tài xế Uber hoặc, do Uber đã rời Việt Nam, một tài xế “taxi công nghệ” tương tự có thể lập luận rằng họ là người lao động của chủ sở hữu nền tảng thay vì là một nhà thầu bên thứ ba bằng việc sử dụng các lập luận của tòa án Vương quốc Anh.

Bảng dưới đây đưa ra phân tích chi tiết hơn:

Các vấn đề chính trong hợp đồng mua bán điện mẫu (PPA) cho hệ thống điện mặt trời mái nhà

1.1. điều khoản rõ ràng để giải quyết trường hợp công suất lắp đặt thực tế của ĐMTMN cao hơn hoặc thấp hơn công suất thiết kế của ĐMTMN như được ghi trong PPA ĐMTMN. Do đó, không rõ liệu bên mua (EVN):

1.1.1. có thể từ chối ĐMTMN nếu công suất lắp đặt thực tế của ĐMTMN thấp hơn công suất thiết kế; hoặc

1.1.2. có thể từ chối mua công suất dư thừa nếu công suất lắp đặt thực tế của ĐMTMN cao hơn công suất thiết kế.

Rủi ro điều độ

1.2. Không giống như các nhà máy điện mặt trời nối lưới được Quyết Định 13/2020 quy định ưu tiên điều độ để khai thác toàn bộ công suất, PPA ĐMTMN không có bất kỳ điều khoản áp dụng nào với hiệu quả tương tự. Hơn nữa, EVN có nghĩa vụ mua toàn bộ điện năng được tạo ra từ nhà máy điện mặt trời nối lưới, trong khi đó ĐMTMN thì không có quy định này. Theo đó, ĐMTMN không được ưu tiên bán điện cho EVN, và cũng không có gì đảm bảo rằng EVN sẽ mua toàn bộ điện năng phát từ ĐMTMN lên lưới điện của EVN.