DANH MỤC HÀNG HÓA VÀ DỊCH VỤ NHÀ NƯỚC GIỮ ĐỘC QUYỀN TẠI VIỆT NAM

Nghị Định 94/2017 của Chính Phủ quy định danh mục hàng hóa và dịch vụ mà Nhà nước giữ độc quyền cung ứng. Hay nói cách khác, các doanh nghiệp từ các thành phần tư nhân bao gồm cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không được phép cung ứng các hàng hóa, dịch vụ này tại Việt Nam trừ trường hợp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ định việc cung ứng.

Theo Nghị Định 94/2017, Nhà nước sẽ chỉ coi các hàng hóa hoặc dịch vụ là hàng hóa và dịch vụ Nhà nước độc quyền khi không có các nhà đầu tư khác quan tâm hoặc không có đủ năng lực cung ứng các hàng hóa, dịch vụ đó. Danh mục hàng hóa và dịch vụ mà Nhà nước giữ độc quyền bao gồm, nhưng không giới hạn:

·         Hàng hóa và dịch vụ phục vụ mục đích quốc phòng và an ninh quốc gia. Bộ Quốc phòng và Bộ Công an sẽ quy định hướng dẫn cụ thể về các hàng hóa và dịch vụ này;

·         Vật liệu nổ công nghiệp;

·         Vàng miếng và vàng nguyên liệu;

·         Xổ số kiến thiết;

·         Thuốc lá điếu, xì gà nhập khẩu;

THỨ TỰ ƯU TIÊN THANH TOÁN GIỮA CÁC GIAO DỊCH BẢO ĐẢM KHÔNG PHÁT SINH HIÊU LỰC ĐỐI KHÁNG

Theo quy định tại Điều 308 của BLDS 2015, trường hợp các giao dịch bảo đảm liên quan tới cùng một tài sản không phát sinh hiệu lực đối kháng với một bên thứ ba (giao dịch bảo đảm không phát sinh hiệu lực đối kháng), thứ tự thanh toán sẽ được xác định theo thứ tự xác lập các giao dịch bảo đảm không phát sinh hiệu lực đối kháng. Điều 47a của Nghị Định 163/2006 cũng đưa ra quy định tương tự về thứ tự ưu tiên thanh toán giữa bên nhận bảo lãnh với các giao dịch không phát sinh hiệu lực đối kháng khác. Cụ thể, thứ tự ưu tiên thanh toán giữa bên nhận bảo lãnh với các giao dịch không phát sinh hiệu lực đối kháng khác cũng sẽ được xác định theo thứ tự mà các giao dịch đó được xác lập.

Có một số vấn đề pháp lý phát sinh từ các quy định này như sau:

·         Nếu một giao dịch bảo đảm không phát sinh hiệu lực đối khác với một bên thứ ba thì về mặt lô gich, giao dịch đó cũng sẽ không phát sinh hiệu lực đối kháng với các giao dịch khác. Tuy nhiên, Điều 308 của BLDS 2015 đã làm cho một giao dịch bảo đảm không phát sinh hiệu lực đối kháng trở nên đối kháng với các giao dịch bảo đảm không phát sinh hiệu lực đối kháng khác được giao kết sau giao dịch đó;

NĂNG LỰC PHÁP LUẬT CỦA CHI NHÁNH CÔNG TY TẠI VIỆT NAM THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015

Theo quy định của Bộ Luật Dân Sự 2015 (BLDS 2015), năng lực pháp luật của chi nhánh bị hạn chế. Cụ thể là, chi nhánh không thể nhân danh chính mình giao kết hợp đồng bởi vì nó không phải là pháp nhân hay thể nhân tự nhiên. Bên cạnh đó, trong khi không hoàn toàn rõ ràng (xem phía dưới), có quan điểm cho rằng chi nhánh không còn khả năng đại diện cho công ty mẹ của mình. Vì vậy, không rõ là liệu một hợp đồng ký bởi chi nhánh với tư cách là đại diện cho công ty mẹ có giá trị pháp lý theo quy định mới của BLDS 2015 hay không. Điều này là bởi theo quy định của BLDS 2015,

·         Chỉ có thể nhân tự nhiên và pháp nhân mới có thể tự nhân danh chính mình giao kết hợp đồng;

·         Chỉ có thể nhân tự nhiên hoặc pháp nhân có thể trở thành người đại diện cho một người khác (thể nhân tự nhiên hoặc pháp nhân); và

·         BLDS 2005 đã từng quy định rằng chức năng của chi nhánh bao gồm chức năng đại diện theo ủy quyền. Tuy nhiên, quy định này đã bị loại bỏ khỏi BLDS 2015.

NHỮNG YÊU CẦU BẮT BUỘC ĐỐI VỚI NGHỊ QUYẾT CỦA ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG TẠI VIỆT NAM

Trong công ty cổ phần (CTCP), có nhiều vấn đề quan trọng (như tăng số cổ phần được quyền chào bán, thay đổi ngày nghề kinh doanh hay các giao dịch giá trị lớn) thuộc thẩm quyền và được quyết định bởi Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ). ĐHĐCĐ đưa ra quyết định của mình bằng việc thông qua nghị quyết. Trong thực tiễn, một nghị quyết của ĐHĐCĐ được thông qua theo cách thức sau đây:

·         Cuộc họp của ĐHĐCĐ được tổ chức và khi kết thúc cuộc họp, một biên bản sẽ ghi chép lại nội dung (bao gồm nhưng không giới hạn) các quyết định được đưa ra trong cuộc họp. HĐQT có thể lựa chọn việc lấy ý kiến bằng văn bản từ các cổ đông và chuẩn bị biên bản kiểm phiếu; và

·         Trên cơ sở biên bản được chấp thuận, Chủ tịch HĐQT ký một văn bản gọi là “Nghị quyết của ĐHĐCĐ” trong đó bao gồm các quyết định cụ thể được ĐHĐCĐ chấp thuận tại cuộc họp ĐHĐCĐ hoặc bằng cách lấy ý kiến bằng văn bản từ các cổ đông. Văn bản này thường được cung cấp cho đối tác của công ty hoặc cơ quan cấp phép.