Các biện pháp mới để kiểm soát phát thải khí nhà kính ở Việt Nam

Trong tháng 1 năm 2022 này, ba văn bản pháp luật mới đã được ban hành liên quan đến việc giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn, bao gồm:

· Nghị định 6 của Chính phủ ban hành và có hiệu lực từ ngày 7 tháng 1 năm 2022 (Nghị Định 6/2022);

· Thông tư 1 của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường (Bộ TN&MT) ban hành và có hiệu lực từ ngày 7 tháng 1 năm 2022 về ứng phó với biến đổi khí hậu (Thông Tư 1/2022); và

· Quyết định 1 của Thủ Tướng Chính Phủ về việc ban hành danh mục các lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính được ban hành và có hiệu lực từ ngày 18/01/2022 (Quyết Định 1/2022).

Các văn bản pháp luật này dường như là một bước để thực hiện cam kết của Việt Nam nhằm đạt được mức phát thải các-bon ròng vào năm 2050 tại COP26.

Thứ nhất, theo Quyết Định 1/2022, có 21 lĩnh vực và 1912 cơ sở (Cơ Sở Mục Tiêu) phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính. Danh sách này sẽ được xem xét lại hai năm một lần.

“Địa điểm trọng tài” và “nơi tiến hành phiên trọng tài” - Các thuật ngữ này có nghĩa là gì theo pháp luật Việt Nam?

Trong trọng tài quốc tế, việc xác định “Địa Điểm Trọng Tài” rất quan trọng bởi pháp luật của quốc gia nơi có địa điểm trọng tài sẽ thường điều chỉnh các thủ tục tố tụng trọng tài. Ngoài ra, các quy tắc trọng tài quốc tế còn phân biệt địa điểm trọng tài với Nơi Tiến Hành Phiên Trọng Tài là nơi thực tế diễn ra các phiên xét xử trọng tài. Tại Việt Nam, Luật Trọng Tài Thương Mại 2010 chưa có định nghĩa rõ ràng về “địa điểm trọng tài” và “nơi tiến hành phiên trọng tài”.

Điều 3.8 của Luật Trọng Tài Thương Mại 2010 quy định:

Địa điểm giải quyết tranh chấp là nơi Hội đồng trọng tài tiến hành giải quyết tranh chấp theo sự thỏa thuận của các bên hoặc do Hội đồng trọng tài quyết định nếu các bên không có thỏa thuận. Nếu địa điểm giải quyết tranh chấp được tiến hành trên lãnh thổ Việt Nam thì phán quyết phải được coi là tuyên tại Việt Nam mà không phụ thuộc vào nơi Hội đồng trọng tài tiến hành phiên họp để ra phán quyết đó”

Những thay đổi đáng kể đối với các quy định thi hành Luật Kinh Doanh Bất Động Sản tại Việt Nam

Ngày 6 tháng 1 năm 2022, Chính Phủ ban hành Nghị Định 2/2022 hướng dẫn thi hành Luật Kinh Doanh Bất Động Sản 2014. Nghị Định 2/2022 sẽ có hiệu lực từ ngày 1 tháng 3 năm 2022 và thay thế Nghị Định 76/2015. Bài viết này sẽ tổng hợp một số quy định mới đáng chú ý tại Nghị Định 2/2022.

Bài viết được thực hiện bởi Nguyễn Hoàng Dương và biên tập bởi Nguyễn Quang Vũ.

Định nghĩa mới

Nghị Định 2/2022 đưa ra định nghĩa cho nhiều thuật nghữ pháp lý mơ hồ thường được sử dụng trong Luật Kinh Doanh Bất Động Sản 2014, chẳng hạn như bất động sản đưa vào kinh doanh, dự án bất động sản, hoặc hợp đồng kinh doanh bất động sản. Các định nghĩa mới tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải thích các quy định khác nhau của Luật Kinh Doanh Bất Động Sản 2014 và Nghị Định 76/2015 một cách thống nhất.

Trách nhiệm công khai thông tin của chủ đầu tư bất động sản

Theo Nghị Định 2/2022, chủ đầu tư bất động sản sẽ phải thực hiện công bố thông tin về các dự án bất động sản của mình. Cụ thể, các thông tin sau đây phải được công khai trên trang thông tin điện tử của chủ đầu tư, tại trụ sở Ban quản lý dự án (trường hợp dự án đầu tư kinh doanh bất động sản), hoặc tại sàn giao dịch bất động sản (trường hợp kinh doanh bất động sản qua sàn giao dịch):

Cấu trúc để bên cho vay nước ngoài thế chấp Quyền sử dụng đất do bên vay Việt Nam nắm giữ

Theo Luật Đất Đai 2013, bên cho vay nước ngoài (Bên Cho Vay Nước Ngoài) không được phép nhận thế chấp quyền sử dụng đất (QSDĐ) từ bên vay Việt Nam. Tuy nhiên, bên cho vay nước ngoài với sự hỗ trợ của ngân hàng Việt Nam có thể xem xét cấu trúc sau đây để cho phép một công ty Việt Nam (Bên Vay) sử dụng QSDĐ của mình để bảo đảm cho bên cho vay nước ngoài. Cấu trúc có thể được tóm tắt như sau:

· Một ngân hàng Việt Nam (Ngân Hàng Việt Nam) sẽ cho Bên Vay vay một khoản vay (Khoản Vay Trong Nước). Bên Vay sẽ thế chấp cho Ngân Hàng Việt Nam QSDĐ của mình để bảo đảm cho Khoản Vay Trong Nước (thế chấp đó là Thế Chấp QSDĐ). Theo Luật Đất Đai 2013, một công ty tại Việt Nam có thể thế chấp QSDĐ của mình cho một ngân hàng được phép hoạt động tại Việt Nam.