QUY ĐỊNH VỀ ĐẦU TƯ THĂM DÒ VÀ KHAI THÁC DẦU KHÍ TẠI VIỆT NAM - XUNG ĐỘT LỢI ÍCH

Tại Việt Nam, các tổ chức, cá nhân nước ngoài và trong nước thực hiện các hoạt động dầu khí trên cơ sở hợp đồng dầu khí được ký với Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) hoặc các thỏa thuận khác ký với PVN hoặc Chính Phủ Việt Nam theo Luật Dầu Khí 1993.

Hợp đồng dầu khí có thể là hợp đồng chia sẻ sản phẩm (HĐCSSP), thỏa thuận liên doanh hoặc các hình thức khác nếu được Thủ Tướng Chính Phủ phê duyệt. Trừ khi được Thủ Tướng Chính Phủ phê duyệt, HĐCSSP phải tuân thủ mẫu hợp đồng chia sẻ sản phẩm dầu khí do Chính Phủ ban hành theo Nghị Định 33/2013.

PVN có quyền tham gia vào các hoạt động dầu khí với tư cách là nhà đầu tư đồng thời có quyền và thẩm quyền quản lý các hoạt động của nhà thầu và, trong một số trường hợp, được ủy quyền thay mặt Chính Phủ trong quan hệ với các nhà đầu tư khác trong các HĐCSSP. Điều này dẫn đến xung đột lợi ích lới đối với PVN khi đóng vai trò là nhà đầu tư theo HĐCSSP và đồng thời là cơ quan quản lý. Pháp luật Việt Nam không có quy định rõ ràng để kiểm soát xung đột lợi ích khi PVN tham gia đầu tư vốn với các nhà đầu tư khác trong hoạt động dầu khí và đồng thời thực hiện các quyền và thẩm quyền thuộc về một cơ quan nhà nước trong quan hệ với các nhà thầu đó theo HĐCSSP.

CHUYỂN GIAO DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC LỚN LỚN CỦA VIỆT NAM CHO ỦY BAN QUẢN LÝ VỐN NHÀ NƯỚC TẠI DOANH NGHIỆP

Kể từ ngày 29 tháng 9 năm 2018, theo Nghị Định 131/2018, Chính Phủ quyết định chuyển giao việc quản lý 19 doanh nghiệp nhà nước (DNNN) từ nhiều Bộ khác nhau sang cho Ủy Ban Quản Lý Vốn Nhà Nước tại Doanh Nghiệp (UBQLV). Tóm tắt chi tiết về từng DNNN được đưa ra dưới đây:

ĐỊNH NGHĨA VỀ CHO THUÊ TÀI CHÍNH THEO LUẬT VIỆT NAM

Các quy định về ngân hàng của Việt Nam không đưa ra định nghĩa rõ ràng về cho thuê tài chính. Việc thiếu một định nghĩa rõ ràng có thể dẫn đến các rủi ro pháp lý không đáng có cho các bên tham gia giao dịch cho thuê xuyên biên giới (ví dụ: cho thuê máy bay). Ví dụ, nếu một hợp đồng thuê xuyên biên giới được xem là cho thuê tài chính, thì hợp đồng thuê đó có thể cần phải được đăng ký với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam như một khoản vay nước ngoài.

Theo Luật Các Tổ Chức Tín Dụng 2010, hoạt động cho thuê tài chính được định nghĩa là (1) cấp tín dụng trung và dài hạn; (2) trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài chính; và (3) thỏa mãn một trong các điều kiện sau:

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG MUA BÁN NỢ TẠI VIỆT NAM

Dưới đây là một số vấn đề pháp lý trong việc chuyển nhượng các khoản nợ (Khoản Nợ) từ một tổ chức tín dụng (Bên Khởi Tạo) cho một công ty được phép kinh doanh mua bán nợ tại Việt Nam (Công Ty Mua Bán Nợ). Giao dịch Khoản Nợ giữa một tổ chức tín dụng và một tổ chức tín dụng có lợi cho tổ chức tín dụng để xử lý nợ xấu hoặc phát hành chứng khoán được bảo đảm bằng tài sản:

·         Các tổ chức tín dụng được phép thương lượng lãi suất cho vay dựa trên cung cầu thị trường và tín nhiệm tín dụng mà không bị hạn chế lãi suất tối đa ngoại trừ một số trường hợp. Trong khi đó, lãi suất của khoản vay cấp bởi các tổ chức phi tín dụng phải tuân thủ mức lãi suất tối đa 20%/năm theo Bộ Luật Dân Sự 2015. Trên thực tế, lãi suất cho vay tiêu dùng khá cao và có thể cao hơn mức lãi suất tối đa 20%/năm. Nếu lãi suất của các Khoản Nợ cao hơn 20% mỗi năm, thì không rõ theo luật liệu Công Ty Mua Bán Nợ, khi sở hữu Khoản Nợ, có thể tiếp tục tính lãi suất như vậy hay không;