Hợp đồng quyền chọn có được coi là chứng khoán phái sinh theo Luật Chứng Khoán 2020 mới không?

Hợp đồng quyền chọn được thỏa thuận riêng giữa hai bên khó có thể được coi là một loại chứng khoán phái sinh theo Luật Chứng Khoán 2020 mới và Nghị định 158/2020. Điều này là do Nghị định 158/2020 về cơ bản đã giảm phạm vi tài sản cơ sở của chứng khoán phái sinh mà phải tuân theo các quy định về chứng khoán. Theo Luật Chứng Khoán 2006 cũ và Nghị định 42/2015, một hợp đồng quyền chọn được thỏa thuận riêng vẫn có thể được coi là chứng khoán phái sinh theo quy định của pháp luật về chứng khoán.

PHÂN TÍCH CHI TIẾT NGHỊ ĐỊNH 31/2021 HƯỚNG DẪN THI HÀNH LUẬT ĐẦU TƯ 2020

Ngày 26 tháng 3 năm 2021, Chính Phủ ban hành Nghị Định 31 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Đầu Tư 2020 (Nghị Định 31/2021). Nghị Định 31/2021 có hiệu lực từ ngày ký và thay thế Nghị Định 118/2015 hướng dẫn Luật Đầu Tư 2014 và các văn bản khác có liên quan. Nghị Định 31/2021 cung cấp một số điểm mới đáng chú ý so với Nghị Định 118/2015 và các văn bản có liên quan khác. Bài viết này sẽ bình luận chi tiết về những điểm mới này như dưới đây.

Bài viết này được viết bởi Trịnh Phương Thảo và biên tập bởi Hoàng Thị Thanh Thùy.

Vui lòng tải bài viết tại Đây.

Công ty nước ngoài có thể thuê người Việt Nam làm nhà cung cấp dịch vụ thay vì là người lao động hay không?

Câu trả lời là có, tuy nhiên cần có một số biện pháp giảm thiểu rủi ro như được thảo luận dưới đây.

Pháp luật Việt Nam không có sự phân biệt rạch ròi giữa quan hệ lao động và quan hệ thương mại (ví dụ: hợp đồng dịch vụ) do các định nghĩa về quan hệ lao động và hợp đồng lao động trong Bộ Luật Lao Động 2019 không rõ ràng và bao quát. Ví dụ,

(1) Bộ Luật Lao Động 2019 định nghĩa “quan hệ lao động” là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa người lao động, người sử dụng lao động, các tổ chức đại diện của các bên, cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Theo Luật Thương Mại 2005, “cung ứng dịch vụ” được định nghĩa là hoạt động thương mại, theo đó một bên (sau đây gọi là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (sau đây gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận. Những định nghĩa này đều khá rộng và không đủ cụ thể để phân biệt các mối quan hệ này. Trong cả hai mối quan hệ đều có sự giao kết và thanh toán tiền giữa bên thuê và bên được thuê.

Các quy định mới theo Luật Đầu Tư, Luật Doanh Nghiệp, Luật Điện Lực, Luật Nhà Ở và các luật khác

Ngày 11 tháng 1 năm 2022, Quốc Hội đã thông qua luật mới sửa đổi 09 luật, bao gồm Luật Đầu Tư Công, Luật Đầu Tư Theo Phương Thức Đối Tác Công Tư, Luật Đầu Tư, Luật Nhà Ở, Luật Đấu Thầu, Luật Điện Lực, Luật Doanh Nghiệp, Luật Thuế Tiêu Thụ Đặc Biệt, và Luật Thi Hành Án Dân Sự (Luật 03/2022). Luật 03/2022 sẽ có hiệu lực từ ngày 1 tháng 3 năm 2022. Bài viết này sẽ thảo luận một số điểm mới nổi bật của Luật 03/2022.

1) Luật Doanh Nghiệp 2020

Sửa đổi thuật ngữ “thành viên Hội Đồng Thành Viên” thành “thành viên công ty”

Như đã đề cập trước đây, Luật Doanh Nghiệp 2020 (Điều 49 và Điều 50) chỉ quy định về quyền của thành viên Hội Đồng Thành Viên, không quy định quyền của thành viên Công Ty TNHH. Nhiều quyền của thành viên Hội Đồng Thành Viên nên là quyền của thành viên Công Ty TNHH, như quyền mua phần vốn góp mới tăng thêm hoặc nhận cổ tức do Công Ty TNHH trả. Việc sửa đổi thuật ngữ “thành viên Hội Đồng Thành Viên” thành “thành viên công ty” tại Điều 49 và Điều 50 đã giải quyết thành công vấn đề này, mặc dù trong các quy định khác, Luật Doanh Nghiệp 2020 vẫn không phân biệt vị trí thành viên Công Ty TNHH và thành viên Hội Đồng Thành Viên của Công Ty TNHH.