GIỚI HẠN VAY NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM

Theo quy định của Luật Các Tổ Chức Tín Dụng 2010 (như được sửa đổi gần đây), ngân hàng phải chịu một số hạn chế khi cấp khoản vay hoặc các hình thức tín dụng khác cho bên vay, bao gồm:

(a) Tổng mức dư nợ cấp tín dụng cho (1) một khách hàng và (2) một khách hàng và người có liên quan không được vượt quá lần lượt là 15% và 25% vốn chủ sở hữu của ngân hàng. Dư nợ tín dụng bao gồm (nhưng không giới hạn): (1) trái phiếu được phát hành bởi khách hàng hoặc người liên quan của họ, (2) khoản vay có bảo đảm được bảo lãnh bởi các tổ chức tín dụng khác, và (2) khoản vay có bảo đảm bởi tiền gửi tiết kiệm cá nhân. Dư nợ tín dụng không bao gồm (1) tín dụng cấp cho bên vay là một tổ chức tín dụng khác và (2) tín dụng cấp bởi nguồn vốn ủy thác của Chính Phủ hoặc các tổ chức, cá nhân khác. Thủ Tướng Chính Phủ có thể quyết định bãi bỏ giới hạn này phụ thuộc vào giới hạn 400% vốn chủ sở hữu của ngân hàng;

QUY ĐỊNH MỚI VỀ SỬA ĐỔI BỔ SUNG LUẬT CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG 2010 TẠI VIỆT NAM

Tháng 11 năm 2017, Quốc Họi đã thông qua nhiều sửa đổi bổ sung đối với Luật Các Tổ Chức Tín Dụng 2010 (Luật TCTD Sửa Đổi). Khoảng hai phần ba Luật TCTD Sửa Đổi tập trung vào quy định về tái cơ cấu, giải cứu, và giải thể tổ chức tín dụng. Điều này có thể lý giải khoảng thời gian tương đối ngắn giữa ngày ban hành và ngày có hiệu lực của Luật TCTD Sửa Đổi. Luật TCTD Sửa Đổi có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 1 năm 2018, chưa đầy hai tháng kể từ thời điểm ban hành. Quốc hội thường để một luật có hiệu lực sau khoảng thời gian từ sáu tháng tới một năm. Điều này có vẻ như cho thấy nhận thức về sự cấp thiết của Ngân Hàng Nhà Nước (NHNN) trong việc xử lý nhiều ngân hàng đã được NHNN giải cứu trong một số năm gần đây.

Bên cạnh các quy định về tái cơ cấu, giải cứu và giải thế tổ chức tín dụng, Luật TCTD Sửa Đổi đưa ra một loạt quy định khác nhằm cải thiện việc quản trị và vận hành của tổ chức tín dụng. Các sửa đổi, bổ sung này bao gồm:

NGHỊ ĐỊNH MỚI VỀ ĐĂNG KÝ THẾ CHẤP VÀ CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM KHÁC Ở VIỆT NAM

Ngày 15 tháng 10 năm 2017, Nghị định 102 của Chính Phủ ngày 1 tháng 9 năm 2017 về đăng ký giao dịch bảo đảm (Nghị Định 102/2017) chính thức có hiệu lực. Nghị Định 102 thay thế Nghị Định 83 của Chính Phủ ngày 23 tháng 7 năm 2010 (Nghị Định 83/2010) về cùng vấn đề. Nghị Định 102/2017 đưa ra một số điểm mới như sau:

·         Việc thế chấp đối với tài sản gắn liền với đất phải được đăng ký nếu tài sản đó đã được ghi nhận trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trước Nghị Định 102/2017. Việc đăng ký thế chấp đối với các tài sản gắn liền với đất không phải là bắt buộc.

·         Các thủ tục đăng ký bảo lưu quyền sở hữu (một biện pháp bảo đảm mới theo quy định của Bộ Luật Dân Sự 2015) được đưa ra;

THỨ TỰ ƯU TIÊN THANH TOÁN GIỮA CÁC GIAO DỊCH BẢO ĐẢM KHÔNG PHÁT SINH HIÊU LỰC ĐỐI KHÁNG

Theo quy định tại Điều 308 của BLDS 2015, trường hợp các giao dịch bảo đảm liên quan tới cùng một tài sản không phát sinh hiệu lực đối kháng với một bên thứ ba (giao dịch bảo đảm không phát sinh hiệu lực đối kháng), thứ tự thanh toán sẽ được xác định theo thứ tự xác lập các giao dịch bảo đảm không phát sinh hiệu lực đối kháng. Điều 47a của Nghị Định 163/2006 cũng đưa ra quy định tương tự về thứ tự ưu tiên thanh toán giữa bên nhận bảo lãnh với các giao dịch không phát sinh hiệu lực đối kháng khác. Cụ thể, thứ tự ưu tiên thanh toán giữa bên nhận bảo lãnh với các giao dịch không phát sinh hiệu lực đối kháng khác cũng sẽ được xác định theo thứ tự mà các giao dịch đó được xác lập.

Có một số vấn đề pháp lý phát sinh từ các quy định này như sau:

·         Nếu một giao dịch bảo đảm không phát sinh hiệu lực đối khác với một bên thứ ba thì về mặt lô gich, giao dịch đó cũng sẽ không phát sinh hiệu lực đối kháng với các giao dịch khác. Tuy nhiên, Điều 308 của BLDS 2015 đã làm cho một giao dịch bảo đảm không phát sinh hiệu lực đối kháng trở nên đối kháng với các giao dịch bảo đảm không phát sinh hiệu lực đối kháng khác được giao kết sau giao dịch đó;