Thiệt Hại Về Uy Tín phát sinh từ các vi phạm hợp đồng thương mại theo pháp luật Việt Nam

Ở Việt Nam, việc bên bị vi phạm yêu cầu bồi thường đối với những thiệt hại mà gây tổn hạiđến uy tín của mình (Thiệt Hại Về Uy Tín) do các vi phạm hợp đồng thương mại gây ra bởi bên vi phạm thì không phổ biến. Tuy nhiên, về nguyên tắc, Thiệt Hại Về Uy Tín do vi phạm hợp đồng thương mại nên được bồi thường và đền bù theo pháp luật Việt Nam vì các lý do sau:

· Theo Điều 419.3 và 361.3 của Bộ Luật Dân Sự 2015, bên bị vi phạm có thể yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần phát sinh từ hành vi vi phạm hợp đồng, trong đó bao gồm, bên cạnh những thiệt hại về tinh thần khác, thiệt hại về tinh thần do xâm phạm uy tín;

· Thiệt Hại Về Uy Tín có thể được coi là “tổn thất thực tế và trực tiếp” theo Điều 302.2 của Luật Thương mại 2005 nếu bên bị vi phạm đã thực tế phải chịu tổn thất về uy tín phát sinh trực tiếp từ hành vi vi phạm hợp đồng gây ra bởi bên vi phạm;

Nghị Định mới thi hành Bộ luật Lao động 2019

Ngày 14 tháng 12 năm 2020, Chính Phủ đã ban hành Nghị định mới hướng dẫn thi hành các quy định về điều kiện lao động và quan hệ lao động theo Bộ luật Lao động 2019 (Nghị Định 145/2020). Nghị ĐịnhĐịnh 145/2020 sẽ có hiệu lực kể từ ngày 01/02/2021. Chúng tôi liệt kê dưới đây một số thay đổi đáng chú ý đối với các quy định về lao động theo Nghị Định 145/2020. Bài viết này được viết bởi Nguyễn Hoàng Dương và Lê Võ Thủy Tiên.

Phương pháp mới cho việc báo cáo sử dụng lao động

Giờ đây, người sử dụng lao động có thể khai trình việc sử dụng lao động lần đầu trong hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp theo các thủ tục mới để phối hợp, liên thông nhiều thủ tục khác nhau cho việc bắt đầu kinh doanh của một công ty theo Nghị Định 122/2020.

Đối với báo cáo tình hình thay đổi về lao động định kỳ, người sử dụng lao động có thể nộp tờ khai theo mẫu quy định cho cơ quan quản lý lao động thông qua Cổng Dịch Vụ Công Quốc Gia.

Sổ quản lý lao động

Người sử dụng lao động giờ đây được yêu cầu duy trì nhiều sổ quản lý lao động riêng biệt tại trụ sở chính, từng chi nhánh và văn phòng đại diện.

Việc sử dụng các căn cứ ngoài điều khoản hợp đồng (extrinsic evidence) để giải thích hợp đồng theo Pháp luật Việt Nam

“Căn cứ ngoài điều khoản hợp đồng” (extrinsic evidence) có tồn tại theo pháp luật Việt Nam không?

Pháp luật Việt Nam không giải quyết cụ thể khái niệm “căn cứ ngoài điều khoản hợp đồng”. Căn cứ ngoài điều khoản hợp đồng thường được hiểu là căn cứ liên quan đến hợp đồng nhưng không xuất hiện trong nội dung các điều khoản được thể hiện trên hợp đồng vì nó xuất phát từ các căn cứ khác, chẳng hạn như tuyên bố giữa các bên hoặc các hoàn cảnh tiến hành thỏa thuận.

Tuy nhiên, Điều 404.1 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:

Khi hợp đồng có điều khoản không rõ ràng thì việc giải thích điều khoản đó không chỉ dựa vào ngôn từ của hợp đồng mà còn phải căn cứ vào ý chí của các bên được thể hiện trong toàn bộ quá trình trước, tại thời điểm xác lập, thực hiện hợp đồng.”

Theo đó, Bộ luật Dân sự 2015 cho phép sử dụng căn cứ ngoài điều khoản hợp đồng làm nguồn giải thích hợp đồng.

Hướng Dẫn Pháp Lý Của Venture North Law Về Tập Trung Kinh Tế Tại Việt Nam

Hướng dẫn này cung cấp một cái nhìn tổng quan đối với các quy định về “tập trung kinh tế” tại Việt Nam. Hướng dẫn này bao gồm khung pháp lý và cơ quan có thẩm quyền, các sự kiện và ngưỡng kích hoạt liên quan, các yêu cầu về thông báo, thủ tục và thời gian biểu, việc kiểm soát nội dung, các biện pháp khắc phục, các hình thức xử phạt và kháng cáo. Nhiều câu hỏi trong hướng dẫn về tập trung kinh tế của Venture North Law tuân theo các câu hỏi tiêu chuẩn trong Hướng dẫn Pháp lý Cạnh tranh Quốc tế đối với Tập trung Kinh tế do Global Legal Group xuất bản hằng năm.

Hướng dẫn này được viết bởi Nguyễn Quang Vũ, Lê Minh Thùy, Hà Thanh Phúc và Trịnh Phương Thảo. Phiên bản giản lược được sắp xếp và biên tập bởi Trần Kim Chi.